Nhược điểm của thang máy thủy lực: - Hạn chế chiều cao hành trình: Do hệ thống truyền động thủy lực dùng áp suất của dòng dầu để nâng piston nên khả năng về chiều cao hành trình bị hạn chế, thang máy thủy lực phù hợp với độ cao tối đa 17 - 25m (khoảng 7 tầng Thông tin Phòng Khám Đa Khoa Việt Gia - 166 Đường Nguyễn Văn Thủ, Đa Kao, Quận 1 chi tiết về địa chỉ, điện thoại, vị trí cũng như các đánh giá từ người đã trải nghiệp tại Phòng Khám Đa Khoa Việt Gia - 166 Đường Nguyễn Văn Thủ, Đa Kao, Quận 1 Vấn đề của bạn sẽ Địa chỉ : 146 Bis, đường Nguyễn Văn Thủ, phường Đa Kao, quận 1, TP. HCM Điện thoại : +84 93 1333 150. Email: contact@aimacademy.vn. Giấy phép ĐKKD số 0313323802 do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP. HCM cấp ngày 25 tháng 06 năm 2015 Bài mẫu số 1: Phân tích đoạn đầu của bài thơ Đất Nước. Cảm hứng về đất nước, về tầm vóc đáng tự hào của nó là một cảm hứng vốn quen thuộc cùa thơ ca hiện đại giai đoạn từ 1945 đến 1975. Bất cứ ai cũng nhận ra rằng từ sau Cách mạng tháng Tám, dân tộc Bước 1: Lập danh sách ý nghĩ đó cho bài nghiên cứu. Bất kể bài nghiên cứu khoa học trước khi làm cũng phải có ý tưởng. Đối với bài nghiên cứu khoa học y khoa điều dưỡng cũng vậy. Danh sách ý nghĩ đó rất quan trọng. Nó sẽ giúp bạn xem xét được một cách tổng quan Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu liên tưởng, Do vậy, hành trình thơ ca của anh đã định hình về phong cách, về nét riêng, và thơ anh là tinh hoa của thơ ca Việt Nam hiện đại. Truyền thống gia đình, tình cảm yêu nước, một lòng một dạ với Tổ quốc và nhân dân cùng tâm hồn cao Z8g5O. ĐỀ Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Đất Nước”Nguyễn Khoa Điềm“Trong anh và em hôm nay.......................................Làm nên Đất Nước muôn đời”* DÀN BÀI GỢI ÝI. MỞ BÀI- Nguyễn Khoa Điềm là một trong những gương mặt tiêu biểu của thơ ca thờikháng chiến chống Mĩ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm giàu chất suy tư, giàu hình ảnh vànhững liên tưởng phong phú sáng tạo. Đất Nước được trích trong đoạn trích trườngca “Mặt đường khát vọng” tiêu biểu cho vẻ đẹp của Nguyễn Khoa Đoạn trích thể hiện cách cảm nhận vừa mới mẻ vừa sâu sắc của nhà thơ NguyễnKhoa Điềm về Đất Nước, từ đó nêu lên trách nhiệm của mỗi người đối với THÂN BÀI-Dẫn dắt hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ-Giới thiệu nội dung của đoạn thơ trước đó1. Cảm nhận mới mẻ của nhà thơ về Đất Nước 9 câu đầu- Nhà thơ đã lựa chọn một cái nhìn hợp lí, đất nước có mặt trong mỗi con người“Trong anh và em hôm nayĐều có một phần Đất Nước”.Đất Nước không trừu tượng ở đâu xa xôi mà kết tinh, hoá thân ở ngay trong mỗimột con người, từ hình dáng, màu da giọng nói, cách ăn mặc cho đến những suynghĩ, tình cảm đều mang đậm màu sắc dân tộc. Nói cách khác, mỗi con người ViệtNam đều được thừa hưởng một phần vật chất và tinh thần của đất nước do cha ôngtruyền Nước còn là sự hài hoà giữa nhiều mối quan hệ cá nhân với cá nhân qua hìnhảnh “hai đứa cầm tay” và quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng qua hình ảnh “khichúng ta cầm tay mọi người” Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Khoa ĐiềmCuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Khoa ĐiềmVnDoc xin giới thiệu cùng các bạn bài viết về sự nghiệp và cuộc đời của nhà thơ Nguyễn Khoa Khoa Điềm được sinh ra trong gia đình có truyền thống yêu nước và hiếu học thế nên những áng thơ của ông đều hướng về tình yêu quê hương, đất nước. Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Vì ông là người trực tiếp tham gia trong trận chiến với đế quốc Mỹ thế nên thơ của ông rất chân thật và giàu tính chiêm nghiệm, đặc biệt là cảm xúc vô cùng sâu lắng mang đậm màu sắc trữ tình. Là một người có ý thức và trách nhiệm với đất nước, thế nên những câu thơ ông sáng tác thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của người công dân, người lính với đất cùng tìm hiểu Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chi tiết, đầy đủ trong bài viết dưới tắt lý lịch Nguyễn Khoa ĐiềmNhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh ngày 15-3-1943 tại Tỉnh Thừa Thiên Huế, nước Việt Nam. Ông sinh thuộc cung Song Ngư, cầm tinh con giáp dê Quý Mùi 1943. Nguyễn Khoa Điềm xếp hạng nổi tiếng thứ 44773 trên thế giới và thứ 192 trong danh sách Nhà thơ nổi tiếng. Tổng dân số của Việt Nam năm 1943 vào khoảng 22,612 triệu sử nhà thơ Nguyễn Khoa ĐiềmNhà thơ Nguyễn Khoa Điềm còn có tên khác là Nguyễn Hải Dương. Ông là một nhà thơ lớn, một nhà chính trị của Việt Nam. Ông từng là Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X, Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IX, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm của Nguyễn Khoa Điềm lấy chất liệu từ văn học Việt Nam và cảm hứng từ quê hương, con người, và tình thần chiến đấu của người chiến sĩ Việt Nam yêu nước... Trong kháng chiến chống Mỹ, tho của Nguyễn Khoa Điềm thể hiện rõ được con người Việt Nam và bản chất anh hùng bất khuất của chiến sĩ Việt Nam. Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Khoa Điềm Đất ngoại ô, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, trường ca Mặt đường khát vọng,…Tác phẩm được xem là thành công nhất của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó chính là bài thơ "Đất nước". Bài thơ ra đời trên chiến trường Bình Trị Thiên vào mùa đông năm 1971. Với việc kết hợp tinh tế giữa ca dao và dân ca vào trong thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện được cảm nhận mới lại của tác giả đối với đất nước. Bài thơ này đã được đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy cho học tíchGiải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm".Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô giải B với tập thơ "Cõi lặng" - năm sáng tác tiêu biểu của Nguyễn Khoa ĐiềmNgười con gái chằm nón bài thơNơi Bác từng quaNỗi nhớTháng chạp ở Hồng TrườngThưa mẹ con điTiễn bạn cuối mùa đôngTình CaTôi lại đi đường nàyTrên núi sôngTừ những gì các anh trao?Tuổi trẻ không yênVỗ HờnXanh xanh bóng núiGiặc MỹGửi anh TườngHình dung về Chê GhêvaraHồi kết cuộcKhoảng trời yêu dấuKhúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹLauLời chàoBáo độngBếp lửa rừngBước chân - Ngọn đènCái nền căm hờnCát trắng Phú VangChiều Hương GiangCon chim thời gianCon gà đất, cây kèn và khẩu súngĐất ngoại ô 1973Mặt đường khát vọng 1974Ngôi nhà có ngọn lửa ấm 1986Thơ Nguyễn Khoa Điềm 1990Cửa thép 1972Đất và khát vọngTrường caĐất nướcMàu xanh lên đườngMùa Xuân ở A ĐờiNgày vuiNghĩ về một nhãn hiệuXuống đườngNguyễn Khoa Điềm thời trẻThuở nhỏ, ông được đi học ở trường làng. Năm 1955 ông ra miền Bắc học tại trường học sinh miền Nam. Năm 1964, ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà từng hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên tại miền nam, tham gia quân đội, xây dựng cơ sở của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, viết báo, làm thơ...Ông từng bị giam tại nhà lao Thừa Phủ, đến năm 1968 thì được thả tự 1975, ông tham gia công tác Đoàn Thanh niên Cộng sản; Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ Thừa Thiên - sống gia đình Nguyễn Khoa ĐiềmÔng sinh ra trong một gia đình danh giá có truyền thống yêu nước và hiếu học. Cha ông là Nguyễn Khoa Đăng, một ông quan nội giám có tài yên dân, được dân gian truyền tụng .Cụ nội Nguyễn Khoa Điềm từng làm chức quan bố chánh. Ông nội ông là một nhà nho có tinh thần yêu nước, từng được bầu vào Viện dân biểu Trung kì do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Viện trưởng. Bà nội là cháu nội vua Minh Mạng. Thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự kết tinh của xúc cảm và trí tuệ để thăng hoa thành thơ. Đó không chỉ là sản phẩm của một trí tuệ giàu có, một tư duy sắc sảo mà đó còn là sản phẩm của một tấm lòng, một trái tim nên có sức lay động ở tận đáy sâu tâm hồn người đọcTrang DimpleKhi có giặc người con trai ra trậnNgười con gái trở về nuôi cái cùng conCuộc kháng chiến chống Mỹ dần lui vào lịch sử. Song, những năm tháng hào hùng đó không thể nào quên. Có một pho sử được chép bằng những tác phẩm thơ ca, dài suốt hai mươi trái đất này, không một dân tộc nào lại không tha thiết với hòa bình, độc lập. Song, có lẽ, với dân tộc ta, khát vọng ấy cháy bỏng hơn cả. Suốt hành trình giữ nước, không có thời nào thiếu vắng những dũng sĩ cầm thanh gươm nghìn cân ra trận, âm vang trận mạc đã làm nên dòng chủ lưu của thơ chống đang xem Phong cách thơ của nguyễn khoa điềmSự ra đời phát triển của nền thơ chống Mỹ đã góp phần vào cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Có lẽ chưa bao giờ trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ ca lại đóng góp nhiều tài năng, tâm huyết với những tác phẩm có sức sống với thời gian như thơ giai đoạn chống Mỹ. Đặt thơ chống Mỹ trong lòng thời đại, có thể khẳng định mỗi vần thơ là tiếng gọi động viên, cổ vũ dân tộc vùng lên đánh giặc. Một trong những nét nổi bật của thơ chống Mỹ là sự xuất hiện của đội ngũ những nhà thơ trẻ. Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly, Nguyễn Khoa Điềm…Chính họ làm nên sức bật và sức sống mới cho thơ ca giai đoạn này. Chính họ đã cất lên tiếng nói đầy tự tin về ý thức trách nhiệm và nhiệt huyết cháy bỏng trong trái tim cả thế hệ mình – thế hệ tự nguyện nhập cuộc và trải nghiệm qua thử thách chiến tranh. Mỗi gương mặt thơ trẻ đó mang một cá tính, một giọng điệu riêng làm nên những phong cách nghệ thuật độc đáo.… Chúng tôi làm thơ ghi lấycuộc đời mình… Bài hát của chúng tôiLà bài ca ống cóng… Là ta hát những lời của ta… Mỗi câu thơ như sợi tơ dàiRút ra từ tháng ngày bom đã dám sống hết mình với thời đại những câu thơ thật chân thành từ suy nghĩ nội tâm của thời đó, mà hôm nay đọc lại, ai đó dễ quy chụp là có phần nào cao giọng, cường điệu. Sự thật, nó vẫn phản ánh trung thực những suy nghĩ tâm huyết và phổ biến của một thời. Phải đặt vào đúng văn cảnh của nó, thì mới thấy hết được rằng đó là những câu thơ hay, những câu thơ gan ruột“i qua hết tuổi thanh xuânể lại trong rừng những gì quý nhấtMất mọi thứ để nhân dân không mất”Phạm Tiến Duật,là “Trời ơi! Nếu kẻ thù chiếm đượcChỉ một gốc sim thôi, dù chỉ gốc sim cằnTổ quốc sẽ ra sao, Tổ quốc!” Hữu Thỉnh.Hoặc giản dị làm sao, khi được soi lại một khoảnh khắc ngẫu hứng những gì mà ta từng nhất mực hy sinh“Bạn cùng đi với tôi trên vỉa hè rạn vỡ– ây là những gì chúng ta đã sống và đã chếtNgười con gái áo trắng đi về tương lai nào đó– ây là những gì chúng ta đã đổ máu và hát ca!”. Nguyễn Khoa iềm“Cả thế hệ dàn hàng gánh đất nước trên vai”.“Người ta không thể chọn để được sinh raNhưng chúng tôi đã chọn cánh rừng, phút giây, năm tháng ấy…”Cho con xin bắt đầu từ mẹĐể nói về chúng conLớp tuổi hai mươi, ba mươi điệp trùngáo línhĐã từng sung sướng, đã từng nghẹn ngàoĐược làm con mẹĐược ra trận những năm đất nước mình khốc liệt…Thanh Thảo.Mẹ đó là Tổ quốc, đất nước yêu số các nhà thơ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm viết không nhiều, nhưng từ số lượng ít ỏi ấy vẫn hiện lên một tâm hồn thi sĩ thực sự với những rung động tinh tế, với thế giới nội tâm nồng nàn sâu lắng. Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ có phong cách rõ nét và có đóng góp quan trọng cho thành tựu của thơ chống Mỹ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm là những phác hoạ về chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa những năm chống Mỹ, và là bức tranh về phong trào đấu tranh chính trị của học sinh, sinh viên trong đô thị tạm chiếm miền Nam. Mảng nội dung quan trọng này được thông qua một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm với một ngòi bút tài năng. Thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự kết tinh của xúc cảm và trí tuệ để thăng hoa thành thơ. Đó không chỉ là sản phẩm của một trí tuệ giàu có, một tư duy sắc sảo mà đó còn là sản phẩm của một tấm lòng, một trái tim nên có sức lay động ở tận đáy sâu tâm hồn người thơ chống Mỹ và âm hưởng chung của thơ trẻ miền Nam chống Nền thơ chống Mỹ .Văn học Việt Nam thời kì chống Mỹ cứu nước 1965 – 1975 có một vị trí quan trọng trong lịch sử văn học dân tộc. Đây là thời kì văn học phát triển rực rỡ trên nhiều thể loại, trở thành cuốn biên niên được các nhà thơ khắc hoạ một cách chân thực về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc. Thơ giai đoạn chống Mỹ cứu nước thể hiện Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, bản lĩnh con người Việt Nam, phản ánh được khí thế tầm vóc của cả một dân tộc mang hơi thở thời đại. Có thể nói đây là thời kì rực rỡ nhất của thơ ca Việt Nam hiện đại. Từ tháng 8 năm 1964, khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta bước sang một giai đoạn mới gay go, ác liệt. Nhanh nhạy và kịp thời, nền thơ hiện đại đã nhập cuộc tham gia vào cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của toàn dân tộc. Suốt những năm tháng chiến tranh, các thế hệ nhà thơ đã tiếp bước nhau dàn quân trên các mặt trận với cảm hứng chủ đạo là thể hiện khát vọng độc lập tự do và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong thời đại chống thơ chống Mỹ được hình thành từ nhiều thế hệ nhà thơ Thế hệ nhà thơ xuất hiện trước cách mạng Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Tế Hanh…, thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp Chính Hữu, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Quang Dũng… và thế hệ các nhà thơ trẻ ra đời trong thời kì chống Mỹ. Mỗi nhà thơ nói trên đều có thế mạnh riêng và có những đóng góp đáng ghi nhận cho nền thơ chống Mỹ. Chỉ trong vòng mười năm, nền thơ chống Mỹ đã liên tục xuất hiện những gương mặt trẻ như Thái Giang, Nguyễn Mỹ, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Dương Hương Ly, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Khoa Điềm, Bế Kiến Quốc, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị Mỹ Dạ… Đó là những gương mặt tiêu biểu của thế hệ thơ thời kì chống Mỹ. Các nhà thơ thời kì này ý thức sâu sắc trách nhiệm công dân của mình. “Các nhà thơ đã đưa thơ lên những chiến hào, nơi mũi nhọn của cuộc chiến đấu” Chế Lan Viên đã tự hào vẽ lên vóc dáng và tư thế của nhà thơ trong cuộc chiến đấu của cả dân tộc“Vóc nhà thơ đứng ngang tầm chiến luỹ,Bên những dũng sĩ diệt xe tăng ngoài đồng và hạ trực thăng rơi”Tổ quốc bao giờ đẹp thế nàychăng?Còn Xuân Diệu thì nói về sự gắn bó của nhà thơ với nhân dân, đất nướcTôi cùng xương thịt với nhân dân tôiCùng đổ mồ hôi cùng sôi giọt máuTôi sống với cuộc đời chiến đấuCủa triệu người yêu dấu gian laoNhững đêm hành quânThơ thời kì kháng chiến chống Mỹ tập trung xây dựng hai loại hình tượng cái tôi trữ tình đó là “cái tôi” sử thi và “cái tôi” thế hệ. Cái tôi sử thi đã tạo cho nhà thơ một tâm thế mới. Nhà thơ phát ngôn cho cả dân tộc, đất nước, nhân dân. Nhà thơ đứng ở tầm cao thời đại để bao quát cả thời gian, không gian, cả hiện tại và quá khứ, tương lai để phát hiện suy ngẫm. Vì vậy hình tượng trong thơ cũng mang tầm vóc sử thi, tầm vóc con người được đo bằng chiều kích không gian, vũ trụ, khắc hoạ được tầm vóc dân tộc trong thời đại đánh ca chống Mỹ không chỉ đóng góp to lớn về mặt nội dung, mà còn thể hiện bước tiến lớn về mặt hình thức. Hiện thực cuộc sống ùa vào thơ góp phần tạo nên những cách thể hiện mới mẻ, độc đáo, vừa tìm những mảnh đất mới để khai phá, vừa “thâm canh” trên chính mảnh đất của những hình thức và phương tiện biểu hiện truyền thống. Tất cả những bước tiến đó đã khẳng định sự thâm nhập của thơ với hiện thực, khả năng nắm bắt tinh nhạy, kịp thời của các nhà thơ trước thời đại lịch sử. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã giành được thắng lợi, thơ chống Mỹ đã góp một tiếng nói xứng đáng về cuộc ra trận lớn lao của dân tộc, “Không có nhiều trong những bức tranh xã hội rộng lớn, những câu chuyện kể hấp dẫn về cuộc sống dân tộc, nhưng thơ chống Mỹ là tiếng nói tâm tình tha thiết, là khúc ca chiến đấu, là lời tự bộc lộ chân tình ý chí của một dân tộc quyết chiến và quyết thắng” . Nó hoàn thành sứ mệnh vẻ vang của một nền thơ, ghi lại được thời kì lịch sử đau thương mà hào hùng của dân tộc, đánh dấu một chặng đường phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại.. Thơ trẻ miền Nam chống thành công của phong trào thơ chống Mỹ, phải kể đến sự đóng góp rất lớn của thế hệ các nhà thơ trẻ, trong đó có các cây bút sinh viên – học sinh miền Nam như Trần Quang Long, Nguyễn Thái Bình, Thái Ngọc San, Trần Vàng Sao, Đông Trình, Tần Hoài Dạ Vũ, Võ Quê… Hàng loạt các tập thơ ra đời nói lên tinh thần yêu nước và đấu tranh của thế hệ trẻ miền Nam Thơ họ trẻ trung đằm thắm, vượt lên những chán chường bế tắc và những vay mượn siêu hình đương thời để cất lên tiếng gọi lên đườngNếu thơ con bất lựcCon xin nguyện trọn đờiDùng chính trái tim mình làm trái pháSống chết một lần thôiĐó là những vần thơ của Trần Quang Long – một cây bút bỏ thành ra vùng giải phóng sau Mậu Thân 1968. Anh đã thực hiện lời thề thiêng liêng, tha thiết trong thơ, và đã ngã xuống trong tư thế người chiến sĩ. Có những bài thơ đã kết nối tuổi trẻ đấu tranh bởi sức lay động sâu xa của nó. Trong lửa đạn chiến tranh, những bài thơ của Trần Vàng Sao, Trần Quang Long, Võ Quê…thực có sức cảm hoá lạ lùng. “Bài thơ của một người yêu nước mình” – Trần Vàng Sao, đăng lần đầu trên báo Sài Gòn đã được quay rônêô ở chiến khu, sau đó chuyển phát hành về Huế năm 1967 và được lưu truyền rộng rãi. Võ Quê viết những bài thơ “Lục bát từ Côn đảo” trong những ngày tù đày. Và từ khí thế đấu tranh sôi nổi của phong trào học sinh, sinh viên Huế, nhà thơ đã viết những câu thơ hào sảng về một ngày giải phóngKiêu hùng tóc biếc bay caoEm tung nón rách em gào tự do…Đó là khí thế của cả nước nói chung và của Huế nói riêng trong những ngày sục sôi chống Mỹ. Những hình ảnh giàu tính biểu cảm trên thể hiện khí thế của tuổi trẻ thành Huế quyết tâm đứng lên đấu tranh giải phóng quê hương. Thơ Nguyễn Kha cũng như đốt bùng lên phong trào tuổi trẻ học đường. Và nhà thi sĩ – chiến sĩ ấy cũng đã hy sinh trên một sườn đồi ở ngoại ô thành HuếTa nghe chừng đoàn người ngựa Thăng longĐang phá vỡ trùng vây, đập tan quân cướp nướcTa đã thấy vành đai mở rộngThành phố rộn ràng khoác áo tứ thânNhìn chung các tác phẩm của các tác giả trên đã thể hiện được chiều sâu tâm hồn, tình cảm của những người đang chiến đấu. Họ đại diện cho tuổi trẻ miền Nam và cả nước đứng lên tranh đấu giải phóng đất nước, quê hương. Ở họ đều có một điểm chung đó là lòng yêu nước. Những câu thơ trẻ trung đằm thắm của họ góp phần tạo nên hình ảnh đẹp của thế hệ trẻ miền Nam. Thơ trẻ chống Mỹ là một hiện tượng đặc biệt, bởi chưa có giai đoạn nào trong thơ lại cùng một lúc xuất hiện một đội ngũ đông đảo các nhà thơ cùng một thế hệ tuổi trẻ. Giữa chiến trường rộng lớn mỗi nhà thơ chọn cho mình một mảng hiện thực phù hợp để sáng tác, tạo ra những vùng thẩm mỹ riêng. Nếu như vùng thẩm mỹ của Phạm Tiến Duật là đường Trường Sơn với cuộc sống của những người lính lái xe, của những cô thanh niên xung phong thì vùng thẩm mỹ của Nguyễn Khoa Điềm là phong trào học sinh, sinh viên đô thị bị tạm chiếm miền Nam. Chọn cho mình một mảng hiện thực đặc biệt nên tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm có một giọng điệu riêng. Đó là tiếng nói đại diện của tuổi trẻ miền Nam trong quá trình nhận đường về với nhân dân, với dân tộc. Quá trình nhận thức ấy quả không đơn giản. Sống trong thành phố bị kẻ thù chiếm đóng, Cách mạng đối với họ thật xa lạ. Đối diện với từng ngày từng giờ là cảnh bắt lính của chính quyền tay sai, là những cám dỗ của cuộc sống tiêu cực, buông thảSông Hương ơi sông HươngNgươi còn nguồn với bểĐể đi và để đếnCòn ta hai lăm tuổiTrôi cạn trên mặt đườngMặt đường khát vọngTrường ca Mặt đường khát vọng đã tái hiện lại quá trình nhận thức của tuổi trẻ miền Nam dưới ách Mỹ – Ngụy từ nỗi đau quê hương nhận rõ chân tướng kẻ thù, sự thức tỉnh về trách nhiệm của tuổi trẻ trong công cuộc cứu nước, tình cảm với nhân dân đất nước để rồi cuối cùng xuống đường, hoà vào dòng thác nhân dân đấu tranh vì độc lập tự do. Hành trình đến với lý tưởng, với cách mạng, nhân dân của tuổi trẻ thành thị miền nam vô cùng gian nan, phức tạp. Nguyễn Khoa Điềm muốn thức tỉnh họ, và nhà thơ hoà nhập với tuổi trẻ miền Nam để cất lên tiếng nói của chính họ. Nhà thơ cùng họ thấm thía xót xa về thân phận nô lệPhượng vẫn rơi những cánh tươi hồngĐau như máu những tâm hồn son trẻSao con học để làm bầy nô lệSúng Mỹ hôm nay thành giáo cụ học đườngVới sự đồng cảm sâu sắc, với vốn hiểu biết khá kĩ lưỡng về cuộc sống của tuổi trẻ thành thị miền Nam – kết quả của một quá trình công tác gắn bó với thực tiễn phong trào học sinh, sinh viên, ở trường ca Mặt đường khát vọng, tuổi trẻ thành thị miền Nam đã cất tiếng thông qua khúc hát của nhà Khoa Điềm – phong cách thơ đặc sắc của Thơ trẻ chống .Khái niệm phong cách nghệ thuật cho rằng “Phong cách chính là người” mỗi nhà văn thường có một tạng riêng. Thi pháp văn học Nga định nghĩa “Phong cách là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định, là nguyên tắc thẩm mỹ để cấu trúc toàn bộ nội dung và hình thức”. Các nhà nghiên cứu lí luận nước ta cũng đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu nội hàm thuật ngữ phong cách. Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học trên cơ sở thừa nhận hai phạm trù phong cách ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật đã định nghĩa “Đó là cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy”. Quả thật tính độc đáo là yếu tố quyết định tạo phong cách nghệ Phong cách thơ Nguyễn Khoa quá trình vận động và phát triển của nền thơ chống Mỹ, xuất hiện thế hệ các nhà thơ trẻ, trong đó có Nguyễn Khoa Điềm. Nhà thơ đã có mặt và đi suốt cả chặng đường chiến tranh và đã đánh dấu thành tựu của mình qua những chặng đường sáng tác. Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm thời kì chống Mỹ cứu nước là cảm hứng lớn về đất nước và nhân dân anh hùng Sự thống nhất độc đáo của phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm nằm ở cảm hứng hiện thực thời đại, ở những chủ đề quen thuộc, ở phương diện thể hiện cái tôi trữ tình phong phú đa dạng, với lớp ngôn từ, hình ảnh cảm xúc ẩn sau bề mặt câu chữ một cảm quan lịch sử văn hoá sâu sắc độc đáo. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm yêu nước không đơn giản chỉ là nhiệt tình hăng hái chiến đấu và căm thù giặc mạnh mẽ. Với Nguyễn Khoa Điềm tình yêu đất nước làm sống dậy trong trang thơ lịch sử bốn ngàn năm hào hùng của dân tộc với những chiến công dựng nước và giữ nước của cha ông. Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự đồng hiện của những gì gần gũi nhất, thân thương nhất của mỗi con người Việt Nam trong quá khứ, hiện tại và tương lai, trong thời gian và không gian, trong lịch sử và truyền thống văn hoá… Ở Nguyễn Khoa Điềm lòng yêu nước là hồn Việt thấm đượm trong tâm hồn để từ đó đúc kết một chân lý vững vàng Đất nước của nhân tưởng Đất nước của nhân dân đã chi phối hầu hết các sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. Vì vậy tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm không chỉ nói lên những suy nghĩ cảm nhận của tuổi trẻ trong chiến tranh, về sự lạc quan hay cái nhìn nghiêm túc thành thật, thậm chí trần trụi về những mất mát… mà còn bộc lộ những suy nghĩ hiện thực sâu sắc hơn rất nhiều. Thơ Nguyễn Khoa Điềm thể hiện lòng yêu nước qua việc tranh luận về tuổi trẻ, về nhân sinh quan để dựng lại cả quá trình “tìm đường” và“nhận đường” của tuổi trẻ đô thị miền Nam về với con đường cách mạng của dân tộc, nhân dân. Tài năng và cá tính sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm còn bộc lộ trong những phương diện nghệ thuật đó là thi pháp biểu hiện mang phong cách riêng, từ giọng điệu trữ tình giàu chất chính luận, đến việc xây dựng chất liệu thơ giàu chất liệu hiện thực, chất liệu văn hoá và giàu tính liên tưởng..,từ việc sử dụng những tín hiệu thẩm mỹ vừa truyền thống vừa hiện đại đến việc sử dụng linh hoạt thể thơ tự do với những cung bậc khác nhau của cảm xúc với một vốn từ ngữ giàu có vừa dân dã vừa mang tính văn hoá thời Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm trong “Mặt đường khát vọng” Hoàn cảnh sáng tác trường ca “Mặt đường khát vọng”.Năm 1964 sau khi tốt nghiệp khoa Văn Đại học sư phạm Hà Nội, Nguyễn Khoa Điềm trở về quê hương, hoà mình vào cuộc chiến đấu dữ dội tại chiến trường Bình Trị Thiên. Tiếp xúc trực tiếp với chiến tranh, tận mắt chứng kiến tội ác của kẻ thù và cuộc chiến đấu gian khổ bất khuất của đồng chí, đồng bào, những điều đó đã khơi nguồn cảm hứng mãnh liệt cho hoạt động sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. Trở về Huế, sau nhiều tháng trời hành quân ròng rã, Nguyễn Khoa Điềm đến Tỉnh uỷ Thừa Thiên và được phân công công tác vận động thanh niên của Thành uỷ Huế. Thời gian hai năm gắn bó với phong trào học sinh sinh viên thành phố Huế có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. Đây là thời gian nhà thơ hoà mình vào tuổi trẻ thành phố bị chiếm đóng. Từ những “đêm không ngủ”, những ngày “xuống đường”, Nguyễn Khoa Điềm đã tích luỹ cho mình vốn sống và sự trải nghiệm để cảm hứng thơ trào lên thành trường ca Mặt đường khát vọng. Trường ca Mặt đường khát vọng được viết tại khu sáng tác Trị Thiên – Huế tháng 10 năm 1971 dài 9 chương Lời chào, Báo động, Giặc Mỹ, Tuổi trẻ không yên, Đất Nước, Áo trắng và mặt đường, Khoảng lớn âm vang, Báo bão. Đặc biệt thành công nhất là chương Đất nước. Đất nước đã trở thành một bài thơ có sức sống độc lập, thể hiện trọn vẹn tài năng phong cách Nguyễn Khoa Điềm. Cùng với Đất nước của Nguyễn Đình Thi, bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm trở thành hai áng thơ đẹp nhất viết về Tổ quốc của văn học Việt Nam hiện Đất Nước của Nhân dânNhà nghiên cứu Hoài Anh cho rằng thơ Nguyễn Khoa Điềm phát sáng trong chủ đề sóng đôi Đất và Khát vọng. Cảm hứng Đất nước ôm trùm chi phối những nguồn cảm hứng khác. Trong chiến tranh cảm hứng Đất nước đi liền với khát vọng gìn giữ chủ quyền dân tộc chiến thắng kẻ thù xâm lược. Chủ đề này được Nguyễn Khoa Điềm triển khai trong thơ từ không khí sử thi hào hùng của cuộc chiến đấu chống tái hiện tinh thần thời đại, thơ Nguyễn Khoa Điềm phơi bày những cảm xúc nồng nàn bay bổng trước vận mệnh chung của toàn dân tộc. Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm cảm hứng sử thi anh hùng bao giờ cũng đi cùng cảm hứng lãng mạn và lí tưởng hoá tạo nên những hình ảnh thơ kì vĩ hùng trángMột mùa xuân tiếng đại bác rầm rầmBản hành khúc những binh đoàn giải phóngVút từng không tiếng gió phất cờ saoÔi ngày hội của những người đứng lên đòi quyền được sốngCảm hứng sử thi bao giờ cũng song hành với chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng. Cảm hứng sử thi là cảm xúc cao trào, dâng tràn lòng yêu nước, tự hào trước sự quật khởi của đất nước. Trong tâm thức Nguyễn Khoa Điềm luôn quan niệm chính Nhân dân vô danh đã làm nên đất nước. Có lẽ vì vậy mà chủ nghĩa anh hùng trong thơ Nguyễn Khoa Điềm không xuất hiện những tên tuổi vang dội mà nhà thơ thường chú ý khai thác chất anh hùng trong những biểu hiện hàng ngày của cuộc chiến đấu ác liệt với những con người bình dị. Ở phương diện chiếm lĩnh hiện thực chiến trường, thơ Nguyễn Khoa Điềm đã hòa vào dàn đồng ca hào hùng của thơ trẻ chống Mỹ. Nếu như trong âm hưởng chung người ta có thể nhận ra những giọng điệu riêng biệt Hoàng Nhuận Cầm hồn nhiên mơ mộng; Phạm Tiến Duật hóm hỉnh tinh nghịch pha chút ngang tàng; Dương Hương Ly khoẻ khoắn thiên về ngợi ca; Bằng Việt sâu lắng và trong sáng…thì thơ Nguyễn Khoa Điềm là thứ thơ đằm sâu mà ngân vang. Độ sâu sắc của thơ Nguyễn Khoa Điềm phần nào nổi trội hơn nhiều tác giả trẻ khác chính là ở sự thể hiện phong phú và xúc động một chủ đề, một tư tưởng Đất nước của nhân dân được soi chiếu từ góc nhìn lịch sử – văn hóa và thông qua những trải nghiệm của chính nhà Khoa Điềm có một vốn tích luỹ phong phú về nền văn hóa dân tộc. Bước vào cuộc chiến tranh, sự tàn khốc dường như càng thôi thúc nhà thơ suy nghĩ nhiều hơn, sâu hơn về đất nước để có những phát hiện tinh tế có khả năng làm sống dậy những hình ảnh đẹp của văn hóa dân tộc. Khi được hỏi về những sáng tác trong chiến tranh, Nguyễn Khoa Điềm đã tâm sự “Chúng tôi là những tri thức trưởng thành qua chiến tranh. Chúng tôi phải huy động hết những phần văn hóa của mình để chứng minh sức mạnh của mình, khả năng tồn tại của mình, chứng minh mình là con người, lớp người có văn hóa. Chính bởi thế mà trong không khí sặc mùi thuốc súng ấy, giữa cái giáp ranh của sự sống và cái chết, tôi muốn đưa vào thơ những hình ảnh đậm nét văn hóa nhất của quê hương đất nước mình” Cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta là một bản trường ca vĩ đại, hào hùng. Để phản ánh hết không khí hào hùng đó, người viết phải lựa chọn cho mình một hình thức biểu đạt sao cho phù hợp nhất nhưng lại có dấu ấn phong cách riêng. Trước yêu cầu đó, Nguyễn Khoa Điềm đã tìm cho mình một cách đi riêng. Khái quát những chủ đề về nhân dân, đất nước, về cách mạng, nhà thơ đã kết hợp chất liệu truyền thống và hiện đại, trên cơ sở vận dụng những hiểu biết về địa lí, phong tục tập quán của nhân dân, đất nước. Để phản ánh hết được cái hào hùng của thời đại, nhiều nhà thơ thời kì này đều sử dụng thể trường ca – một thể loại thể hiện được những sự kiện, biến cố lớn của dân tộc. Nếu trường ca Nguyễn Văn Trỗi của Lê Anh Xuân là một tình khúc ca được thể hiện qua thơ lục bát thật dịu dàng đằm thắm; “Bài ca chim chơ rao” của Thu Bồn lãng mạn, phóng khoáng và bay bổng thì trường ca “Mặt đường khát vọng” của Nguyễn Khoa Điềm là tiếng ca sôi nổi nhiệt tình cất lên từ trái tim tuổi trẻ xuống đường tranh đấu, trong đó những trang thơ khắc hình Đất nước là những nốt nhạc rung động lòng người, được toả sáng dưới một cái nhìn mới mẻ đầy tính phát hiện. Xuyên suốt chương Đất nước là tư tưởng “Đất nước của nhân dân” nhuần nhuỵ trong hình thức “Đất nước của ca dao thần thoại” như một sợi chỉ đỏ tạo nên mạch chảy đằm sâu, tha thiết trong xúc cảm của nhà thơ. Nó như là một bản nhạc với đầy đủ những âm vực cao độ xen kẽ nhau, hoà quyện vào nhau tạo nên sự hấp dẫn lôi cuốn người Nguyễn Khoa Điềm khi viết về đề tài Đất nước, Nhân dân, Giọng thơ đầy xúc cảm, trang trọng khi hát khúc hát sử thi hoành tráng về Nhân dân, Đất nước. Trọng tâm của bản trường ca nằm ở chương Đất nước, tập trung và thăng hoa những suy nghĩ sâu xa nhất của nhà thơ những năm tháng chiến tranh. Đất nước được tái hiện trong những hình ảnh thân thiết với mỗi con người, Đất nước cũng được đặt trong cái nhìn lịch sử và văn hóa trong “thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông” để mỗi người cảm nhận hết tầm cao cả thiêng liêng của hai từ Đất nước. Đất nước – đó là sự hóa thân của lịch sử, của bao thế hệ đem máu xương gìn giữÔi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấyNhững cuộc đời đã hóa núi sông ta.Mặt đường khát vọngCảm quan lịch sử – văn hóa sâu sắc đã tạo nên một chiều sâu riêng, sức hấp dẫn khơi gợi đặc biệt của chương Đất nước. Chương này là điểm hội tụ và tỏa sáng toàn bộ bản trường ca, tạo nên một vẻ đẹp độc đáo khác biệt so với những trường ca cùng thời. Để tái hiện quá trình bắt đầu và lớn lên của Đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã làm sống dậy cả một không gian văn hóa cổ xưa của dân tộc, trong bề dày lịch sử bốn nghìn năm. Bề dày lịch sử ấy chứa đựng cả chiều sâu của một nền văn hoá phong phú, lâu đời, đầy nhân hậu với cả một truyền thống quý báu của dân tộc cần cù, chịu khó trong học tập, làm ăn, dũng cảm trong chiến đấu, chung thuỷ bền vữngtrong tình yêu. Người đọc gặp ở chương Đất nước thế giới của truyện cổ, kho tàng của ca dao… Lời kể ngày xửa ngày xưa của mẹ mở ra xứ sở cổ tích thần kì; miếng trầu của bà gợi câu chuyện Trầu cau, với tình người nồng hậu, thuỷ chung, biểu tượng đạo lí sáng đẹp yêu thương của dân tộc; luỹ tre xanh gợi truyền thuyết Thánh Gióng, như khúc anh hùng ca tráng lệ về sức mạnh thần kì của nhân dân Việt Nam từ buổi bình minh non trẻ dựng nước và giữ nước, và hình ảnh “gừng cay muối mặn” nghĩa tình đằm thắm trong ca dao. Đất nước được gợi lại từ lịch sử, được sống dậy qua phong tục tập quán trong đời sống tinh thần của nhân dân miếng trầu,trồng tre, bới tóc sau đầu, cách đặt tên người, cả tình yêu của con người…Tất cả đều làm nên khuôn mặt dân tộc – một dân tộc nghĩa tình đằm thắm. Chất dân gian, hồn dân tộc như thấm vào từng câu từng chữ. Đất nước bắt nguồn từ những cái hàng ngày gần gũi, cũng lại là những cái bền vững sâu xa hình thành tồn tại từ ngàn xưa trong đời sống dân tộc, từ những phong tục tập quán được tiếp nối thiêng liêng, qua nhiều thế hệ. Đó chính là chiều sâu văn hóa – lịch sử của đất nước, nó góp phần khẳng định Đất nước có từ xa xưa, từ khởi thuỷ của dân tộc khi những cư dân đầu tiên khai phá đất đai lập nên xứ sở. Trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, Đất nước được hình thành từ sự hội tụ của hai yếu tố Đất và Nước. Hai yếu tố này kết hợp với nhau để rồi từ đó sinh thành nên cơ thể đất đai, nước non, xứ sở. Những năm chiến tranh, đến với ngọn nguồn Hương Giang, Nguyễn Khoa Điềm đã từng suy ngẫm về cội nguồn Đất NướcMột cái gì rả ríchDưới mấy cội kền kềnNhư là đất và nướcRu lời ru đầu tiênBạn ơi, bạn có nhớTrong chương Đất nước của trường ca Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm cũng suy cảm về lãnh thổ bắt đầu từ hai yếu tố ấy Đất là nơi em đến trường /Nước là nơi em tắm. Đất là nơi con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc / Nướclà nơi con cá ngư ông móng nước biển khơi. Đất là nơi chim về / Nước là nơi rồng ở. Nhà nghiên cứu Chu Văn Sơn cho rằng đó là một loạt “Những định nghĩa bằng thơ, chúng là sản phẩm của một tư duy vừa giàu chất trữ tình thi ca vừa mang tính huyền thoại vừa thấm đượm phong vị triết học.” Hai yếu tố Đất và Nước được nhà thơ soi chiếu trong mối quan hệ với không gian và thời gian, với lịch sử và hiện tại. Đất nước là mảnh đất quen thuộc gắn bó với mỗi con người, đất nước thân thương như mái trường ta học, như dòng sông em tắm, như góc phố , đình làng, ao sen, lũy tre , cây đa, bến nước nơi lứa đôi hò hẹn, một không gian nhỏ chỉ hai người biết, hai người hay, rất riêng tư nhưng cũng đậm hồn quê hương xứ sở . Đất nước còn là núi sông rừng bể bao la, là không gian sinh tồn và phát triển của bao thế hệ người Việt. Trải qua thời gian, Đất nước trở thành một giá trị lâu bền, vĩnh hằng và được bồi đắp qua nhiều thế hệ, được truyền nối từ đời này sang đời khácMai này con ta lớn lênCon sẽ mang Đất nước đi xaĐến những tháng ngày mơ mộngTư tưởng “Đất nước của nhân dân” như một cảm quan lịch sử chủ đạo của Nguyễn Khoa Điềm, chi phối cái nhìn của nhà thơ khi nghĩ về lịch sử của đất nước, được gìn giữ và kiến tạo bằng máu và mồ hôi của những con người bình dị không tên tuổi. Lịch sử ấy được kết thành từ bao thế hệ, bao số phận những người vợ nhớ chồng ra trận, từ anh học trò nghèo, những con gà con cóc nhỏ bé, đến gót ngựa Thánh Gióng, 99 con voi chầu đất Tổ Hùng Vương…Mỗi người, mỗi vật đi qua trong lịch sử, trong không gian, thời gian đều để lại một chút gì cho đất nước. Đó chính là nhân dân, bằng những cuộc đời thầm lặng, vô danh đã kiến tạo nên giá trị vĩ đại và trường tồn, đó là Đất nướcCó biết bao người con gái, con traiTrong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổiHọ đã sống và chếtGiản dị và bình tâmKhông ai nhớ mặt đặt tênNhưng họ đã làm ra đất nướcVới cái nhìn xuyên suốt lịch sử, tác giả nhấn mạnh vai trò của nhân dân. Nhân dân bắng máu xương của mình đã chiến đấu bảo vệ gìn giữ Đất nước. Trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm, Đất nước còn là sự nối liền các thế hệ Việt Nam, họ đã lao động, sáng tạo, gìn giữ và truyền lại cho đời sau mọi giá trị văn hoá vật chất, tinh thần từ hạt lúa với nền văn minh lúa nước, ngọn lửa được tạo nên bởi bước tiến của loài người đến những của cải tinh thần quý báu như phong tục tập quán lâu đời tên xã, tên làng, giọng nói cha ông…Họ là những anh hùng văn hoá, họ đã bảo tồn từ đời này sang đời khác phong tục và lối sống của dân tộc mìnhHọ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồngHọ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than con cúiHọ truyền giọng điệu cho con mình tập nóiHọ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di nước cũng chính là phần tâm linh ngay trong máu thịt mỗi con người Trong anh và em hôm nay / đều có một phần đất nước. Giọng thơ đặc biệt xúc cảm của những người cùng thế hệ, thông qua giọng ân tình nhắn nhủ của tình yêu, của anh và của em, Nguyễn Khoa Điềm nói lên được sự thống nhất, gắn bó giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và dân tộc. Trách nhiệm và bổn phận đối với đất nước chính là trách nhiệm đối với bản thân mìnhEm ơi em Đất nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó và san sẻPhải biết hóa thân cho dáng hình xứ sởLàm nên Đất nước muôn đờiCũng trong dòng cảm xúc ấy Chế Lan Viên đã viếtÔi Tổ quốc , ta yêu như máu thịt,Như mẹ cha ta, như vợ như chồngÔi Tổ quốc, nếu cần, ta chếtCho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…Đất nước là huyết hệ, là thân thể ruột thịt thân yêu của mình, và mồ hôi xương máu của tổ tiên, ông cha của dân tộc ngàn đời. Vì “Đất Nước là máu xương của mình” nên Trần Vàng Sao đã viết“Nuôi lớn người từ ngày mở đất,Bốn ngàn năm nằm gai nếm mậtMột tấc lòng cũng đẫy hồn Thánh Gióng”.“Tôi yêu đất nước này chân thậtNhư yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôiNhư yêu em nụ hôn ngọt trên môiVà yêu tôi đã biết làm ngườiCứ trông đất nước mình thống nhất”Trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, Đất nước không chỉ được cảm nhận trong chiều dài của thời gian lịch sử, mà còn được được cảm nhận trong chiều rộng của không gian địa lí và chiều sâu của truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc. Nếu như không gian trong Đất nước của Nguyễn Đình Thi là bầu trời, núi rừng, cánh đồng, ngả đường, dòng sông…Trời xanh đây là của chúng ta / Núi rừng đây là của chúng ta… thì không gian trong Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm lại là sự mở mang, lan toả các vùng đất gắn với sự sống và tinh thần dân tộc. Những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, đất Tổ Hùng Vương, Hạ Long, Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm…, không còn đơn giản là tên đất, tên người, tên sông, tên núi mà đó là kết tinh của truyền thống nhân văn cảm động về những người dân Việt Nam đời thường bình dị, vô danh đã làm nên Đất nước Ôi đất nước bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy – Những cuộc đời đã hoá núi sông ta . Đó là lịch sử và cũng là hiện thực của dân tộc, nhân dân ta đang sống và chiến đấu giành sự sống. Sự mới mẻ độc đáo về hình tượng Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm một phần được tạo nên nhờ cách xử lý ngôn ngữ thơ đầy sáng tạo, nhờ cách sử dụng hình ảnh, tín hiệu thẩm mĩ của ca dao tục ngữ, của đời sống dân gian … với một tần số lớn. Chưa bao giờ cùng một lúc xuất hiện trong thơ một trường văn hoá thuần Việt đặc sắc và phong phú như vậy. Đó là những huyền thoại lịch sử đã đi vào tâm linh bao thế hệ người Việt về cội nguồn dân tộcLạc Long Quân và Âu CơĐẻ ra đồng bào ta trong bọc trứngSự tích hòn Vọng Phu nói lên sự thuỷ chung của người vợ hóa đá chờ chồng; Hòn Trống Mái hiện thân của cặp vợ chồng yêu nhau tha thiết. Những luỹ tre, ao đầm để lại mang dấu tích của vết ngựa Thánh Gióng năm nào…Đó là những truyện cổ thấm đẫm lòng yêu nước, yêu cái thiện, yêu lẽ phải trên đời và sự vươn lên bằng niềm tin, hy vọngTa lớn lên bằng niềm tin rất thậtBiết bao nhiêu hạnh phúc có trên đờiDẫu phải cay đắng dập vùiRằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu…Đất nước trong thơ Nguyễn Khoa Điềm còn là phong tục tập quán ngàn đời của dân tộc taHàng năm ăn đâu làm đâuCũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ nộm nang tre đánh lừa cái chếtĐánh lừa cái rét là ăn miếng trầu…Đánh lừa thằng giặc là truyện Trạng thơ Nguyễn Khoa Điềm khi viết về Đất nước có một giọng cuốn hút đặc biệt, trầm lắng và tha thiết, bởi phong vị ca dao tập trung của rất nhiều thành ngữ, quán ngữ ngày xửa ngày xưa, gừng cay muối mặn, một nắng hai sương, con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc, con cá ngư ông móng nước biển khơi, yêu em từ thuở trong nôi, quý công cầm vàng, nuôi cái cùng con…Tất cả những truyền thuyết, truyện cổ, hình ảnh ngôn ngữ – chất liệu của đời sống dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm đều quen thuộc, gần gũi và lắng đọng rất sâu trong tâm thức người Việt. Bởi vậy khi đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm, người đọc xúc động, đồng cảm khi nhận ra chính mình cũng để nhận ra mỗi người không còn chỉ là của riêng mình nữa Trong anh và em hôm nay – đều có một phần đất nước, để nhận ra trách nhiệm cứu nướcEm ơi em đất nước là máu xương của mìnhPhải biết gắn bó và san sẻPhải biết hoá thân cho dáng hình xứ sởLàm nên đất nước muôn nhạy cảm và hướng về vẻ đẹp của truyền thống lịch sử, văn hoá đất nước là một biểu hiện độc đáo trong phong cách Nguyễn Khoa Điềm. Trong cảm nhận chung về lịch sử, văn hoá đất nước, chất Huế, văn hoá Huế tạo nên cho thơ NguyễnKhoa Điềm một mảnh hồn riêng. Thơ Nguyễn Khoa Điềm cất lên tiếng nói của người con đất Huế bằng một giọng thiết tha xứ Huế. Dòng sông Hương để lại ấn tượng nao lòng trong tâm hồn bao người về sự mềm mại, thơ mộng nhưng đi vào thơ Nguyễn Khoa Điềm, dòng sông ấy thật hùng vĩ, hoành tráng, uy nghi, gợi nhớ đến câu thơ của Cao Bá Quát Trường giang như kiếm lập thanh thiên. Đại nội, hoàng thành trầm mặc rêu phong gợi những triều đại vàng son tuy đã lùi vào dĩ vãng, nhưng còn vang vọng tinh thần yêu nước bất khuất của ông cha, còn văng vẳng lời hịch Cần Vương kêu gọi kháng Pháp Qua hoàng thành cha ông gọi tên tôi ù ù trong họng súng thần công /Hịch Cần Vương tưởng còn vang qua chín cửa .Lịch sử Huế, văn hóa Huế thấm sâu vào tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm. Từ nhìn nhận lịch sử, thơ Nguyễn Khoa Điềm trở về với hiện tại của Đất nước và nhân dân trong thời đại chống Mỹ. Trong hơi thở hối hả, dồn dập của thời đại chống Mỹ, Huế đã đứng dậy đem cả lịch sử xuống đường để tranh đấu. Sức trăm năm nay chuyển xuống lòng đường / Cả ngoại ô làm chiến luỹ sông Hương Đất ngoại ô. Gương mặt cổ kính của Cố đô đã nhường chỗ cho gương mặt thời đại ngập tràn khí thế hào hùng, bởi Trường thành cổ ta làm trường thành trẻ / Sông lặng im ta đổ sóng mặt đường Mặt đường khát vọng, bởi sức sống bất diệt và mãnh liệt của Huế đang trỗi dậy làm thành phố hồi sinh trên khắp mặt không khí sục sôi của những ngày xuống đường chống Mỹ, sức mạnh của lòng yêu nước không chỉ dâng trào ở thế hệ học sinh, sinh viên mà còn ở mọi tầng lớp Những người thợ một đời cầm gang sắt / Những mẹ nghèo buôn thúng bán bưng / Những nông dân bị cướp ruộng mất làng / Những tri thức đau một đời chữ nghĩa / Em bé đánh giày, bậc tu hành cứu khổ…Nhân dân còn là những người mẹ, người cha, người em, bạn bè, đồng chí ở mọi nơi, mọi vùng trên chiến trường chống Mỹ.. Nguyễn Duy suy nghĩ về nhân dân qua một “Hơi ấm ổ rơm” hay hình tượng “Tre Việt Nam“, còn Thanh Thảo trong trường ca “Những người đi tới biển” đã viết lên những lời ca xúc động nhất về nhân dânVà cứ thế nhân dân thường ít nóiNhư mẹ tôi lặng lẽ suốt đờiVà cứ thế nhân dân cao vòi vọiHơn cả những ngôi sao cô độc giữa trờiNhưng có lẽ “Đất nước” trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, không chỉ là chiều rộng của không gian địa lí mà nó còn là chiều dọc lịch sử của một nền văn hoá phong phú, lâu đời đầy nhân hậu với cả một truyền thống hào hùng mang bản sắc riêng của dân tộc Việt. Nguyễn Khoa Điềm đã làm sáng lên tư tưởng Đất nước của nhân dân, Đất nước của ca dao thần thoại. Rõ ràng tư tưởng trên đã thật sự vang lên bằng tiếng nói nghệ thuật của thơ. Tiếng nói ấy rất độc đáo, nó là nốt nhạc ngân vang trong bản hòa điệu của thơ ca chống Mỹ, thể hiện tâm hồn cảm xúc của thi nhân trước vẻ đẹp văn hóa dân tộc. Tư tưởng ấy đến nay còn tươi nguyên bởi giá trị của nó, bởi trách nhiệm “hóa thân cho dáng hình xứ sở” là vấn đề muôn đời của thơ ca và cuộc sống. Đây chính là thành công đáng kể của phong cách thơ Nguyễn Khoa Cái tôi trải nghiệm của một thế cùng thế hệ thơ trẻ những năm chống Mỹ, thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn là một giọng điệu riêng. Vẫn nằm trong tinh thần sử thi, nhưng thơ Nguyễn Khoa Điềm khác với nhiều nhà thơ cùng thời như Phạm Tiến Duật gắn với Trường Sơn và những cô thanh niên xung phong, Ngô Văn Phú gắn với làng quê, thôn ổ…Người ta nhận ra chân dung Nguyễn Khoa Điềm qua làn sóng đấu tranh dữ dội của học sinh, sinh viên thành thị miền Nam. Cái tôi trữ tình sử thi một mặt ca ngợi đất nước hào hùng trong máu lửa chiến tranh, mặt khác “cái tôi” chuyển hoá sang dạng thức cái tôi thế hệ, để ngợi ca niềm tin, sức sống của khối tuổi trẻ, lòng nhiệt huyết, yêu lý tưởng của họ trong đấu tranh trực diện với kẻ thùÔi những bước tự do chuyển động phố phườngĐại lộ nghiêng đi làm thác đổĐội ngũ tiến lên, tiến lên là đội ngũMặt đường là mặt người, mặt đường là thanh niênTrong những năm chống Mỹ, cái tôi thế hệ từng hiện diện như một chủ thể trữ tình có ý nghĩa nhân danh. Các nhà thơ cùng thời cũng đã khắc hoạ chân dung thế hệ mang tầm vóc một tập hợp lịch sử đứng lên đấu tranh Thế hệ chúng con đi như gió thổi / Áo quân phục xanh đồng sắc với chân trời Trần Mạnh Hảo. Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình / Nhưng tuổi 20 làm sao không tiếc / Nhưng ai cũng tiếc tuổi 20 thì còn chi Tổ quốc Thanh Thảo. Cảm thức về thế hệ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm vừa đằm thắm vừa sâu sắc. Mỗi lời thơ như một lời giục giã thiết tha, lời giãi bày chân thực, và là sự khẳng định lý tưởng chắc chắn. Cảm thức về thế hệ trẻ được Nguyễn Khoa Điềm trình bày theo lô gíc của sự trải nghiệm cuộc sống từ nhận thức về nhân dân đất nước, về gương mặt kẻ thù đến sự tự ý thức và cuối cùng đứng lên tiêu diệt quân thù. Sống vì nhân dân, vì Cách mạng đối với thế hệ trẻ là đi từ cái riêng đến cái chung rộng lớn, dẫn đến hành động tất yếu của họHãy nâng máu ta lên thành ngọn cờ hồngTrên cao điểm gian truân mùa giữ nướcÔi tuổi trẻ có gì cao quý nhấtBằng hôm nay ta hiến máu xương mìnhNhững âm thanh như lớp sóng đi vòngNghe và nói, và nghe rạo rựcNhư nước mắt nhìn vào nước mắtNhư tình yêu nồng cháy với tình việc làm giàu ý nghĩa này, những trí trức trẻ thành phố đã dựng lên những vũ đài chính trị, tập hợp và truyền bá lý tưởng cách mạng đến với quần chúng lao khổ, đấu tranh với kẻ thù bằng sức mạnh trí thức, văn hoá, lẽ phải và chính nghĩa. Phải đổ máu và nước mắt, phải trả giá bằng những lầm lạc ban đầu,phải trải nghiệm qua đấu tranh trực diện với kẻ thù, tuổi trẻ thành thị đã đến được với Mặt đường khát vọng, hòa với nhân dân cùng cả nước lên đường. Có thể nói, Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ trẻ gắn với chiến trường nên sự chiếm lĩnh và thể hiện đời sống có sự suy tư trải nghiệm của những người trong cuộc. Cái tôi trữ tình trong thơ có điều kiện tự bộc lộ mình, đại diện cho thế hệ mình – thế hệ những người trẻ tuổi đang tôi luyện trong ngọn lửa chiến tranh, thực sự nếm trải những gian lao thử thách và tự nguyện đem xương máu của mình bảo vệ quê hương, đất nước. Từ cái tôi trữ tình sử thi mang tinh thần thời đại đến cái tôi thế hệ trong thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự biểu hiện khí phách hùng tráng không chỉ của cái tôi nhà thơ mà của cả thế hệ tuổi trẻ cùng lứa Cái tôi thế hệ xuống đường của tuổi trẻ sinh viên – đó là sự đóng góp độc đáo làm nên phong cách Nguyễn Khoa một nhà thơ, một người lính trong “lứa cầm súng suốt một thời trai trẻ” Nguyễn Duy, “lứa tuổi hai mươi, ba mươi trùng điệp áo lính” Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm có một tâm hồn rất trẻ, xao động biết bao cảm xúc Tình đồng đội, đồng chí là tình cảm gần gũi nhất của những người lính trongnhững năm tháng ở chiến trường. Những đêm Trường Sơn, bao bọc trong bóng tối của rừng đại ngàn, thời gian như ngắn lại khi những người lính quây quần bên bếp lửa. Bên ánh sáng của những ngọn lửa hồn nhiên reo cười nhảy múa, tình đồng đội càng gần gũi và gắn bó. Xích lại gần nhau và chỉ nhìn lửa thôi, nhà thơ chiến sĩ đã thấy tin yêu thắm thiết bởi ở đó Cháy cùng ý nghĩ / và toả hồng trên mỗi trán say mê. Ngọn lửa hồng trong đêm rừng Trường Sơn đã thắp sáng ngọn lửa lý tưởng trong ý nghĩ, trong tâm hồn người lính. Hơi ấm của bếp lửa rừng xua đi cái âm u của rừng già. Chia sẻ với nhau từ niềm vui, nỗi nhớ đến những điều giản dị – củ sắn, ngọn rau, điếu thuốc, tình đồng đội đã đi qua những năm tháng Trường SơnBỗng thấy thương nhau hơn khi vai bạn sát vai mìnhBẻ củ sắn chia đôi điều giản dịBếp lửa soi một dư vang bền bỉÔi Trường Sơn đốt lửa mấy năm trờiThơ Nguyễn Khoa Điềm viết trong chiến tranh hình ảnh bạn bè đồng chí rất đỗi thiêng liêng cảm động. Đó cũng chính là sức mạnh của người lính chiến thắng sự bạo tàn của bom đạn kẻ thù hướng về ngày mai tươi sáng. Cái tôi trữ tình trong thơ chiến tranh của Nguyễn Khoa Điềm là sự hội tụ của cái tôi chiến sĩ, cái tôi văn hoá và cái tôi thi sĩ. Đây là những yếu tố nền tảng tạo nên sự đa dạng thức và biến hóa của cái tôi trữ tình trong thơ. Với tư thế cái tôi chiến sĩ, cái tôi trữ tình sử thi cất lên tiếng nói vang vọng của một chân lý vĩnh hằng qua hình tượng người lính; cái tôi trữ tình thế hệ lại mang một tiếng nói riêng của tuổi trẻ miền Nam trong hành trình tìm về dân tộc. Cái tôi văn hóa giúp thơ lấp lánh ánh sáng trí tuệ, tri thức. Đặc biệt cảm hứng văn hóa – lịch sử trước mọi hiện tượng của cuộc sống đã tạo nên vẻ đẹp riêng của thơ Nguyễn Khoa Điềm. Người đọc còn lưu mãi ấn tượng về một con người thi sĩ đã cảm nhận được những rung động lớn lao của thời đại và cả những rung động thầm kín, riêng tư của lòng người và cuộc đời. Ba yếu tố trên đã tạo nên tính thống nhất trong phong cách và hiện diện trong cả thơ viết sau chiến tranh của Nguyễn Khoa Giọng điệuGiọng điệu là một phạm trù thẩm mỹ của tác phẩm văn học. “Giọng điệu phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm, thị hiếu thẩm mỹ của tác giả, có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và có tác dụng truyền cảm cho người đọc… Giọng điệu trong tác phẩm gắn với giọng ” trời phú” của mỗi tác giả, nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật, phù hợp với đối tượng thể hiện. Giọng điệu trong tác phẩm có giá trị thường đa dạng, có nhiều sắc thái trên cơ sở một giọng cơ bản chủ đạo, chứ không đơn điệuGiọng chính lịch sử dân tộc mỗi khi đất nước có ngoại xâm thì đời sống, số phận mỗi người dân tất yếu phải gắn chặt với vận mệnh của đất nước. Trong hoàn cảnh và khí quyển tinh thần ấy, thơ ca không thể không trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng, phát ngôn cho ý chí, khát vọng, tình cảm lớn lao của toàn dân tộc. Lấy điểm tựa là lịch sử, đất nước, lẽ phải, chính nghĩa, những áng văn chính luận như Cáo bình ngô của Nguyễn Trãi, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã một thời làm quân thù phải kinh hồn bạt vía. Đế quốc Mỹ xâm lược, cả dân tộc lại một lần ra trận và thơ không còn con đường nào khác ngoài con đường “bay theo đường dân tộc đang bay” Chế Lan Viên. Như vậy thơ ca ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh ít nhiều đều có yếu tố chính luận. Một đặc điểm nổi bật của thơ chống Mỹ là tăng cường tính chính luận, chất suy tưởng triết lý và gia tăng chất liệu hiện thực đời sống. Với đặc điểm này,thơ chống Mỹ đã đáp ứng được yêu cầu của thời đại. “Trong thời đại cách mạng,nội dung chính trị đã thâm nhập và chi phối mạnh mẽ mọi lĩnh vực của đời sống kểcả thơ. Nhằm đề cập và giải đáp những vấn đề mang ý nghĩa chính trị trong cuộcsống, thơ tìm đến khuynh hướng trữ tình chính trị với sự tăng cường yếu tố chínhluận. Bám sát thời sự diễn biến của cuộc chiến đấu, kịp thời đề cập và giải đáp những vấn đề hệ trọng về tư tưởng chính trị, khẳng định đường lối và quyết tâm chiến đấu của dân tộc, lên án kẻ thù trong những âm mưu thủ đoạn và tội ác của chúng…” Nguyễn Khoa Điềm có một trí tuệ sắc sảo, vốn kiến thức sách vở phong phú,sự trải nghiệm qua thử thách chiến tranh và một “tâm hồn thơ trẻ nồng cháy chất lý tưởng”. Với phẩm chất này, giọng điệu chính luận của thơ Nguyễn Khoa Điềm không gượng ép, lên gân,…mà chan hoà đằm thắm trong hình ảnh và ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, nhiệt huyết và ánh sáng lý tưởng. Thơ Nguyễn Khoa Điềm đằm sâu và ngân vang trong lòng người đọc là vì thế. Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ có tài đưa đời sống chính trị vào trong thơ một cách tự nhiên. Giọng thơ khách quan lạnh lùng mang khẩu khí trần thuật ngắn gọn nhằm truyền đạt đến người đọc lượng thông tin nhiều nhất, nhanh thêm Trọn Bộ 1000 Hình Ảnh Động Vật Dễ Thương, Ngộ Nghĩnh Nhất Làm Bạn Say MêChúng kéo vào hăm bốn xeChém mặt đồng ta bốn mươi tám lằn sẹo dọcLửa và máuĐể phơi bày bộ mặt dã man của kẻ thù, Nguyễn Khoa Điềm liệt kê hàng loạt các tội ác phi nhân tính của chúng Tao đánh cho mày…/ Tao moi gan mày…/ Tao móc mắt mày…Có cả những trang thơ nhìn xuyên lịch sử nhân loại để tái hiện hàng loạt tội ác man rợ và hiện đại của giặc Mỹ. Từ ngữ được cô đúc lại, tiết kiệm tối đa mang văn phong báo chí, nhưng ẩn sau bề mặt câu chữ là lòng căm thù đang dâng lên mãnh liệt. Khởi nguồn từ những suy nghĩ nung nấu về những vấn đề lớn lao của thời đại, tư duy thơ Nguyễn Khoa Điềm vận động theo mạch lô gíc của quy luật đời sống tất yếu nhằm khẳng định những chân lí lớn lao của thời đại. Đặc điểm này chi phối giọng điệu lập luận và cấu trúc tầng lớp, chương đoạn của thơ Nguyễn Khoa ca Mặt đường khát vọng mang chủ đề Quá trình nhận thức của tuổi trẻ vùng đô thị bị tạm chiếm miền Nam về những biến động thời đại, về kẻ thù, về đất nước, về trách nhiệm của thanh niên để hướng tới Mặt đường khát vọng – con đường cách mạng, con đường chiến đấu mà cả dân tộc đã lựa chọn. Chủ đề lớn này bao trùm toàn bộ tác phẩm được Nguyễn Khoa Điềm triển khai ra 9 chương Lời chào, Báo động, Giặc Mỹ, Tuổi trẻ không yên, Đất Nước, Áo trắng và mặt đường, Khoảng lớn âm vang, Báo bão. Thế liên hoàn này là tất yếu để chuyển tải một dung lượng lớn của cảm xúc suy nghĩ đang dâng trào. Trong tâm hồn nhà thơ, hình tượng cảm xúc dâng lên tầng tầng, lớp lớp gối nhau như những đợt sóng xô từ nhận thức về sự trưởng thành của tuổi trẻ, những băn khoăn trăn trở trong việc lựa chọn một hướng đi, lòng căm thù giặc và niềm tự hào về giang sơn đất nước, để đến với hành động đứng lên chiến đấu chống kẻ thù. Dòng cảm xúc cuồn cuộn này đòi hỏi những liên tưởng, những suy nghĩ,nghị luận để biện luận, để phản bác rồi tìm ra thái độ đúng, tin yêu và có trách nhiệm với cuộc đời. Để lí tưởng tiến bộ thấm vào những tâm hồn tuổi trẻ, Nguyễn Khoa Điềm đã đưa vào thơ một cuộc đối thoại thảo ngay. Giọng thơ chuyển hoá với những lập luận hệ thống, logic, thuyết phục để cảnh tỉnh những tâm hồn lầm đường lạc lối trở về con đường chính nghĩa của nhân dân, đất nước. Chính vì vậy Mặt đường khát vọng không phải là một tác phẩm tuyên truyền chính trị mà nhà thơ đã hóa thân vào tuổi trẻ, đối thoại với tuổi trẻ bằng sự chân tình của lời tâm giao. Âm hưởng của trường ca là chính luận – trữ tình, từ hình tượng lớn đến hình tượng bộ phận đều thấm nhuần lí lẽ và chính lý lẽ đã kết nối các hình tượng với nhau thành một chỉnh thể. Mặt đường khát vọng là trường ca tiêu biểu cho hiện tượng này. Nhập vai tuổi trẻ thành thị miền Nam , cái tôi trữ tình cất lên giọng cật vấn đối thoại dồn dập-Những bờ bãi nào không dành cho cò nữaNhững luỹ tre nào bom đã đến khai quang ?-Có gì đâu chúng con nhìn lên bản đồ Việt NamSao Tổ quốc chỉ còn nửa nước ?-Sao con học để làm bầy nô lệSúng Mỹ hôm nay thành giáo cụ học đường ?Giọng thơ Nguyễn Khoa Điềm đặc sắc còn nhờ những suy tưởng. Bởi vậy khi xây dựng hình tượng đất nước, thơ Nguyễn Khoa Điềm mang giọng chính luận trang trọng và hùng trángÔi Đất Nước đầu mũi daoĐất Nước đầu mũi tênĐất Nước đầu bước chânĐất Nước đầu tiếng chiêngĐất Nước là ngọn lửaĐất Nước tràn trên từng đỉnh núiĐất Nước thiêng liêng…Sự láy lại và tăng cường điệp từ Đất Nước, cùng với kết cấu thơ dài ngắn làm giọng thơ chất chứa cảm xúc, vừa dồn nén, vừa đồng vọng đánh thức trí tuệ và giục giã tâm hồn người đọc. Hướng về cuộc kháng chiến của toàn dân tộc, thơ không thể thiếu giọng kêu gọi, cổ vũ ngợi ca. Là tiếng nói tình cảm trực tiếp hướng tới đông đảo quần chúng, là bài ca đoàn kết giục giã đấu tranh, giọng thơ Nguyễn Khoa Điềm kêu gọi tha tuổi trẻ như một rừng cây lớn-Em ơi em đất nước là máu xương của ơi em/ hãy nhìn rất xa/ vào bốn nghìn năm đất nước-Mẹ Việt Nam ơi-Tuổi trẻ ơi trong sương gió tháng năm-Anh em ơi/ xuống đường-Em ơi em, đừng quên, đừng quênChọn cho mình vị trí sử thi, ở tầm cao nhất của lịch sử và thời đại thơ Nguyễn Khoa Điềm còn mang giọng quyền uy. Những mệnh lệnh thức xuất hiện dày đặc-Hãy đến đây làm người lính trung ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM - NGUYỄN THỊ NHUNG PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM Chuyên ngành Văn học Việt Nam Mã số 60 22 34 LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC Người hướng dẫn khoa học VŨ TUẤN ANH THÁI NGUYÊN – 2009 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 1 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU Trang 1. Lý do chọn đề tài .......................................... 1 2. Lịch sử vấn đề .............................................. 3 3. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................. 8 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .............. 8 5. Nhiệm vụ nghiên cứu................................... 8 6. Đóng góp của luận văn ............................... 9 7. Kết cấu của luận văn .................................. 10 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2 PHẦN NỘI DUNG Chương I THƠ CHỐNG MỸ VÀ SỰ XUẤT HIỆN PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM 1. Phong cách nghệ thuật thơ.......................................... 11 Khái niệm phong cách.......................................... 11 Phong cách thời đại và phong cách cá nhân........ 14 Nghiên cứu phong cách một nhà thơ.................. 15 2. Nguyễn Khoa Điềm - Một phong cách thơ đặc sắc của thơ trẻ chống Mỹ........................................................... 17 Nền thơ chống Mỹ........................................... 17 Nguyễn Khoa Điềm và những chặng đƣờng sáng tạo. 19 Con ngƣời – Quê hƣơng – Gia đình........ 19 Những chặng đƣờng sáng tạo................. 22 Sự ra đời của Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng trên chiến trƣờng Bình Trị Thiên.... 22 Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Cõi lặng - Thơ viết trong cuộc sống hoà bình.................................. 24 Chương II TỪ CẢM HỨNG THỜI ĐẠI ĐẾN PHONG CÁCH CÁ NHÂN NGUYỄN KHOA ĐIỀM 1. Cảm xúc lớn về Nhân dân, Đất nƣớc. ................................... 27 Cảm xúc về Đất nƣớc nhìn từ góc độ lịch sử - văn hóa....... 28 Cảm xúc về Đất nƣớc từ góc độ trải nghiệm cá nhân. 38 2. Nguyễn Khoa Điềm - tiếng thơ đại diện tuổi trẻ miền Nam. 41 Âm hƣởng chung của thơ tuổi trẻ miền Nam chống Mỹ. 41 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 3 Thơ Nguyễn Khoa Điềm – quá trình nhận đƣờng 3. của tuổi trẻ miền Nam........................................ 43 Cái tôi trải nghiệm của nhà thơ - chiến sĩ................ 48 Từ cái tôi trữ tình sử thi trong thơ Nguyễn Khoa Điềm, đến cái tôi trải nghiệm của một thế hệ............... 48 Cái tôi nhà thơ - chiến sĩ trong đời sống nội cảm. 50 Tình yêu trong chiến tranh....................... 50 Tình đồng đội........................................... 54 4. Những suy ngẫm trong cuộc sống hoà bình............ 56 Trầm tƣ, âu lo đầy trách nhiệm nhƣng không bi quan trƣớc gian nan cuộc sống................................. 56 Những xúc cảm trữ tình trƣớc vẻ đẹp thiên nhiên và cuộc đời................................................................ 64 Chương III PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM QUA MỘT SỐ PHƢƠNG TIỆN NGHỆ THUẬT 1. Giọng điệu của phong cách......................................... 68 Giọng chính luận - triết lý............................... 69 Giọng chính luận........................... 69 Giọng triết lý. ............................... 73 Giọng trữ tình................................................ 74 Giọng suy niệm - tự bạch, độc thoại............. 77 Giọng thơ hoài niệm về quá khứ. 77 Giọng thơ suy tƣ - chiêm nghiệm về cuộc đời............................................ 2. Những hình tƣợng thơ biểu trƣng........................ 79 80 Hình tƣợng Lửa, Máu.................................. 81 Hình tƣợng ngƣời Mẹ................................. 86 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4 Hình tƣợng thơ đặc thù mang nét riêng của 3. phong cách Nguyễn Khoa Điềm...................... 88 Vận dụng nhuần nhuyễn chất liệu văn hoá dân tộc. 90 Ảnh hƣởng của thể loại sử thi đối với trƣờng ca Mặt đường khát vọng....................... 90 Chất liệu văn hóa dân gian trong thơ Nguyễn Khoa Điềm.......................................... 92 Ngôn ngữ giàu màu sắc địa phƣơng.......... 94 PHẦN KẾT LUẬN................................................. 97 THƢ MỤC THAM KHẢO.................................... 101 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 5 PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta với những chiến công oanh liệt đã đi tới thắng lợi cuối cùng. Sự ra đời phát triển của nền thơ chống Mỹ đã góp phần vào cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc. Có lẽ chƣa bao giờ trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ ca lại đóng góp nhiều tài năng, tâm huyết với những tác phẩm có sức sống với thời gian nhƣ thơ giai đoạn chống Mỹ. Đặt thơ chống Mỹ trong lòng thời đại, có thể khẳng định mỗi vần thơ là tiếng gọi động viên, cổ vũ dân tộc vùng lên đánh giặc. Chiến tranh đã đi qua, đất nƣớc bƣớc vào thời kì hoà bình, thơ chống Mỹ trở thành đối tƣợng đầy hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu văn học. Trong cái nhìn đa dạng nhiều chiều của giới phê bình, có ý kiến cho rằng thơ ca giai đoạn kháng chiến chống Mỹ ít chất thơ, ít sự rung động tinh tế nội cảm mà nặng về tuyên truyền cổ vũ. Nhƣng ngƣợc lại nhiều công trình nghiên cứu lại khẳng định thành tựu và sức sáng tạo của thơ ca chống Mỹ. Do có tính vấn đề nhƣ vậy nên thơ chống Mỹ trở thành một hiện tƣợng văn học phong phú, độc đáo và có nhiều sức hút đối với giới phê bình, nghiên cứu và cả những độc giả yêu thơ. Một trong những nét nổi bật của thơ chống Mỹ là sự xuất hiện của đội ngũ những nhà thơ trẻ. Chính họ làm nên sức bật và sức sống mới cho thơ ca giai đoạn này. Trong chiến tranh nhiều tài năng thơ nảy nở nhƣ Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lê Anh Xuân, Dƣơng Hƣơng Ly, Nguyễn Khoa Điềm… Họ đã cất lên tiếng nói đầy tự tin về ý thức trách nhiệm và nhiệt huyết cháy bỏng trong trái tim cả thế hệ mình - thế hệ tự nguyện nhập cuộc và trải nghiệm qua thử thách chiến tranh. Mỗi gƣơng mặt thơ trẻ đó mang một cá tính, một giọng điệu riêng làm nên những phong cách nghệ thuật độc đáo. Song song với việc nghiên cứu một giai đoạn thơ, một nền thơ, việc khảo sát đi sâu vào các tác giả tiêu biểu là một hƣớng đi cần thiết bởi xét cho cùng, giá trị của một nền thơ luôn đƣợc kết tinh bằng sức sáng tạo của những tài năng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6 Trong số các nhà thơ chống Mỹ, Nguyễn Khoa Điềm viết không nhiều, nhƣng từ số lƣợng ít ỏi ấy vẫn hiện lên một tâm hồn thi sĩ thực sự với những rung động tinh tế, với thế giới nội tâm nồng nàn sâu lắng. Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ có phong cách rõ nét và có đóng góp quan trọng cho thành tựu của thơ chống Mỹ. Thơ Nguyễn Khoa Điềm là những phác hoạ về chiến trƣờng Bình Trị Thiên khói lửa những năm chống Mỹ, và là bức tranh về phong trào đấu tranh chính trị của học sinh, sinh viên trong những đô thị tạm chiếm miền Nam. Mảng nội dung quan trọng này đƣợc thông qua một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm với một ngòi bút tài năng. Thơ Nguyễn Khoa Điềm là sự kết tinh của xúc cảm và trí tuệ để thăng hoa thành thơ. Đó không chỉ là sản phẩm của một trí tuệ giàu có, một tƣ duy sắc sảo mà đó còn là sản phẩm của một tấm lòng, một trái tim nên có sức lay động ở tận đáy sâu tâm hồn ngƣời đọc. Nguyễn Khoa Điềm không chỉ là nhà thơ tiêu biểu của nền thơ chống Mỹ. Sau năm 1975 ông vẫn tiếp tục sáng tác và thơ của ông vẫn để lại ấn tƣợng sâu sắc về một tiếng thơ đầy trách nhiệm trƣớc đất nƣớc, cuộc sống, và cũng phản ánh rõ bƣớc chuyển biến trong tƣ duy thơ ông. Nghiên cứu phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm qua những chặng đƣờng sáng tác - khảo sát thơ của ông trong thời kì kháng chiến chống Mỹ và cả trong thời kì hòa bình, có thể nhận ra những đặc điểm phong cách, những dấu hiệu đặc trƣng trong từng thời kì sáng tác, để càng thấy rõ sự ổn định và những biến đổi tƣ duy nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm trong một phong cách thơ đặc sắc và nhất quán. Qua đó cũng có thể góp phần làm rõ chân dung sáng tạo cuả thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng nhƣ tìm hiểu thơ ca Việt Nam thời kì hậu chiến và giai đoạn đổi mới. Nhiều tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm đƣợc chọn giảng trong chƣơng trình văn Trung học cơ sở và Trung học phổ thông. Nguyễn Khoa Điềm đã đóng góp những vần thơ hay nhất về đề tài Đất nƣớc trong văn học thế kỉ XX. Vì thế, đề tài này cũng sẽ góp thêm nguồn tƣ liệu cho việc giảng dạy và học tập các tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm trong nhà trƣờng phổ thông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 7 2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ Nguyễn Khoa Điềm là một nhà thơ có phong cách riêng với tâm hồn nghệ sĩ đầy nhạy cảm. Không chỉ thành công khi viết về chiến tranh với những đề tài mang tầm vóc thời đại lớn lao mà còn đạt đến độ chín trong suy tƣ cảm xúc giữa bộn bề cuộc sống thƣờng ngày. Ngay từ khi cho ra đời những bài thơ đầu tiên, Nguyễn Khoa Điềm đã gây đƣợc sự chú ý của ngƣời đọc, với những bài phê bình, nghiên cứu về thơ ông. Các ý kiến trên đều khẳng định ông là nhà thơ có phong cách. “Đó là thơ của tuổi trẻ, thơ của khát vọng chống Mỹ, thơ về vùng đất ngoại ô, về bạn bè đồng chí”. Nhiều bài viết đánh giá thơ ông, là thứ thơ giàu sức liên tƣởng, có tƣ duy sáng tạo riêng và phong phú những cách thể hiện mới. Năm 1972, Nguyễn Khoa Điềm đã trình làng thơ Việt Nam tập Đất ngoại ô. Sự xuất hiện của tập thơ đƣợc độc giả đón nhận hào hứng và khẳng định những thành công bƣớc đầu của thơ ông. Ngay sau đó nhà phê bình Hà Minh Đức đã có bài giới thiệu Đất ngoại ô của Nguyễn Khoa Điềm. Bài viết đã chỉ ra "sức hấp dẫn, lôi cuốn của thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó là một hồn thơ trẻ trung nồng cháy lý tƣởng" và nhận ra điểm mạnh của thơ ông chính là "sự liên tƣởng đƣợc triển khai khi thì bằng vốn sống thực tế, khi thì bằng vốn văn hóa, khi thì qua mạch tình cảm đƣợc dẫn dắt từ một tấm lòng. Trƣờng ca Mặt đường khát vọng ra mắt bạn đọc năm 1974 đã đem lại tiếng vang cho tên tuổi Nguyễn Khoa Điềm. Năm 1975 Nguyễn Văn Long có bài viết Nguyễn Khoa Điềm với Mặt đường khát vọng. Trong bài viết ông đã đi sâu vào nội dung của cả tập thơ, phân tích cụ thể con đƣờng đi theo cách mạng của tuổi trẻ miền Nam. Tác giả bài viết cho rằng “chƣơng Đất nước làm điểm tựa cảm xúc cho toàn ........... bài”. Cấu trúc của cả tập thơ là sự tìm tòi sáng tạo của Nguyễn Khoa Điềm trong cách thể hiện. Năm 1976 Tôn Phƣơng Lan đã khẳng định tiềm năng của nhà thơ trẻ qua bài giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ trẻ có nhiều triển vọng. Bài viết có cái nhìn khái quát bao trùm cả Đất ngoại ô và Mặt đường khát vọng để nhận ra cái riêng của Nguyễn Khoa Điềm giữa các gƣơng mặt khác. Đó là cảm nhận rất riêng của nhà Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8 thơ về Huế với “cách nhìn riêng qua phong cách của mình, qua tấm lòng vốn đã gắn bó với Huế từ buổi ấu thơ”. Đó là những liên tƣởng độc đáo…Những nét riêng đó đã định hình phong cách nhà thơ. Tôn Phƣơng Lan đã khẳng định “Một phong cách Nguyễn Khoa Điềm khá rõ. Bạn đọc ghi nhận ở anh một cách suy nghĩ và diễn đạt có âm hƣởng riêng”. Năm 1979, Mai Quốc Liên với bài giới thiệu Nguyễn Khoa Điềm và những bài thơ từ chiến trường Bình Trị Thiên tiếp tục làm rõ thêm đƣờng nét chân dung thơ Nguyễn Khoa Điềm. Bài viết cho rằng "Nguyễn Khoa Điềm không bắt đầu thơ mình từ sách vở, từ phòng văn mà từ hiện thực cuộc sống chiến đấu của nhân dân, đất nƣớc". Năm 1985, Nguyễn Xuân Nam tìm hiểu phong cách Nguyễn Khoa Điềm trong Mặt đường khát vọng qua bài "Mặt đƣờng khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm". Một lần nữa Nguyễn Xuân Nam nhấn mạnh điểm nổi bật của Nguyễn Khoa Điềm là "không đặc sắc về tạo hình, màu sắc nhƣng có sức liên tƣởng mạnh" và "anh đã có đƣợc cái nhìn vừa phân tích vừa khái quát rất cần thiết cho thơ". Võ Văn Trực lại tìm cho mình một hƣớng đi mới trong việc cảm thụ thơ Nguyễn Khoa Điềm. Ông phác họa chân dung nhà thơ bằng việc tìm hiểu ảnh hƣởng của truyền thống văn hoá Huế đến con ngƣời và thơ Nguyễn Khoa Điềm, vì vậy bài viết có tựa đề "Gương mặt quê hương - Gương mặt nhà thơ". Theo Võ Văn Trực, "hầu hết đề tài trong thơ anh đều đƣợc rút ra từ mảnh đất Huế, ngoại ô Huế và ngoại ô mở rộng của chiến trƣờng Bình Trị Thiên" và "lịch sử Huế, nền văn hóa Huế, hơi thở hàng ngày của cuộc sống Cố đô thấm vào máu thịt và cảm xúc về Huế chan chứa trong thơ anh". Thơ Nguyễn Khoa Điềm không "ngổn ngang" tên đất tên ngƣời xứ Huế, không "bề bộn" phong tục tập quán Huế nhƣng tâm hồn Huế vẫn dịu dàng ở phía sau mỗi dòng thơ". Chính chất Huế làm nên phong cách và bản lĩnh thơ Nguyễn Khoa Điềm. Sau một thời gian dài, đến năm 1986 Nguyễn Khoa Điềm cho ra đời tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm. Tập thơ đoạt giải thƣởng của hội nhà văn Việt Nam. Nhà nghiên cứu Vũ Tuấn Anh trong bài Nguyễn Khoa Điềm từ Mặt đường khát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9 vọng đến ngôi nhà có ngọn lửa ấm đã khẳng định sự thống nhất trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm trƣớc và sau chiến tranh. Ông cho rằng sự độc đáo của tập thơ Ngôi nhà có ngọn lửa ấm là tƣ duy hƣớng nội, giọng nói rất mới mẻ, không hoa mỹ, không thiên về cảm xúc màu hồng. Với bút pháp lấy cái tình của nội tâm làm nền, thơ đã thâm nhập vào bề sâu, tìm tòi đƣợc cái tiềm ẩn của sự vật. Tập hợp những điều mới mẻ đó “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm ghi nhận một hƣớng cảm xúc điềm đạm, sâu lắng, tách lớp vỏ của sự vật để tìm cái lõi bên trong, khơi gợi từ đấy những triết lí về đạo đức nhân sinh”. Trong bài viết "Ngôi nhà tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm luôn có ngọn lửa ấm", Hoàng Thu Thuỷ nhận xét bức tranh tâm hồn Nguyễn Khoa Điềm sau chiến tranh luôn đƣợc chiếu sáng bởi ngọn lửa hồng niềm tin và trách nhiệm. Bài viết chú ý đến quan niệm thơ của Nguyễn Khoa Điềm sau chiến tranh "Anh đã cho rằng, nhƣợc điểm của thơ văn trong chiến tranh là suy nghĩ riêng tâm tƣ riêng của con ngƣời không phong phú đa dạng. Chỉ có một âm hƣởng chung là chiến đấu; những ƣớc mơ, dằn vặt lo âu đau thƣơng mất mát không có... Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi cách nhìn về chiến tranh, về văn học chiến tranh". Với quan niệm này Ngôi nhà có ngọn lửa ấm đạt tới những cảm xúc dồn nén trong vùng sâu thẳm của tâm hồn và giàu tính thuyết phục hơn khi chắt lọc chất thơ từ những điều rất đỗi đời thƣờng đơn sơ, bình dị. Hoàng Thu Thuỷ là ngƣời chú ý tìm hiểu thi pháp thơ Nguyễn Khoa Điềm. Dù chƣa phân tích kĩ nhƣng bài viết cũng đã có những phát hiện tinh tế và chính xác về nghệ thuật thơ Nguyễn Khoa Điềm "Nắm vững đặc trƣng của thơ ca, bảo đảm cho "tƣ duy thơ đông đặc và nhảy vọt, lựa chọn từ ngữ, hình ảnh hàm súc, triệt để khai thác âm vang của các khoảng cách trong thơ". Cuối bài viết Hoàng Thu Thuỷ đã nêu lên những đặc điểm trong thi pháp biểu hiện của Nguyễn Khoa Điềm "Đó có lẽ là sự vận động từ gân guốc, mạnh khoẻ một cách điềm tĩnh đến độ sâu sắc đến mức tĩnh tại, chạm vào phần sâu kín nhất trong tâm hồn con ngƣời, làm bật lên những hiệu ứng thẩm mỹ phong phú"[5,18]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 10 Vũ Quần Phƣơng cũng thể hiện quan điểm của mình về thơ Nguyễn Khoa Điềm qua bài "Ngôi nhà có ngọn lửa ấm - Nguyễn Khoa Điềm". Tác giả bài viết bộc lộ một thái độ trân trọng trƣớc quan niệm của Nguyễn Khoa Điềm "muốn tìm chất thơ tiềm ẩn trong cái thƣờng ngày" và "quan tâm đến những cảm nhận của lòng mình". Theo Vũ Quần Phƣơng, làm đƣợc nhƣ vậy Nguyễn Khoa Điềm đã "có sự nhạy cảm và lịch lãm sâu sắc". Ông đã khái quát đƣợc đặc điểm nội dung và nghệ thuật của Ngôi nhà có ngọn lửa ấm muốn dùng cái đạm để vẽ cái nồng, không cao giọng lâm ly mà bằng giọng nói thường để chấm phá khêu gợi, tiết kiệm chữ nghĩa...để tạo nên những câu thơ cô đọng dồn nén cảm xúc, đạt đến độ hàm súc [45] Năm 2000, Chu Văn Sơn trong bài phê bình thi phẩm Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm đã khẳng định tƣ duy thơ Nguyễn Khoa Điềm là tƣ duy trữ tình triết luận "Nét chủ đạo trong tƣ duy triết luận trữ tình là đào sâu vào cái bản chất của sự vật dƣới dạng những biểu tƣợng thi ca sống động. Tƣ duy ấy chuyển động dựa trên mạch lôgíc biện chứng với những mối liên hệ bất ngờ kì thú". Sự hoà hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố triết luận và trữ tình đã góp phần định hình nên phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm. Hoài Anh có bài viết trên báo Văn nghệ ra ngày 25 tháng 4 năm 2002 Nguyễn Khoa Điềm với chủ đề thơ sóng đôi Đất và khát vọng. Với sự am hiểu sâu sắc văn hoá Huế, tác giả bài viết đã thâu tóm đƣợc cái "thần" cái "hồn", cái cốt tuỷ tinh tuý cuả thơ Nguyễn Khoa Điềm. Hoài Anh là ngƣời đầu tiên tìm hiểu chất nhạc trong thơ Nguyễn Khoa Điềm "Đọc thơ Nguyễn Khoa Điềm tôi liên tƣởng đến một khúc đàn tranh của một nhạc sĩ Huế". Theo tác giả, trong thơ Nguyễn Khoa Điềm niềm vui thì "khoẻ khoắn tƣơi lành của điệu Nam Xuân", nỗi buồn thì "nhẹ nhàng sâu lắng của điệu Nam Bình" và có những đoạn "đảo phách", "chuyển điệu" của bản Đảo Ngũ Cung... Nguyễn Khoa Điềm sáng tác không nhiều nhƣng ông có hai tác phẩm đƣợc chọn giảng trong chƣơng trình Trung học phổ thông, đó là Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ và Đất nước - trích chƣơng V Mặt đường khát vọng. Rất nhiều Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11 ngƣời trong giới phê bình và giáo dục đã viết bài phân tích phát hiện vẻ đẹp trong nội dung tƣ tƣởng và nghệ thuật của bài thơ. Những bài viết này đƣợc đăng rải rác trên các báo văn và gần đây đƣợc tập hợp lại trong cuốn "Viễn Phương - Thanh Hải - Nguyễn Khoa Điềm"Tủ sách văn học nhà trƣờng. Từ Đất ngoại ô, từ Mặt đường khát vọng mang không khí hào sảng của thời đại, mang dƣ vị ngọt ngào của tâm hồn sinh viên trí thức trẻ, Nguyễn Khoa Điềm trở về Ngôi nhà có ngọn lửa ấm với những điều bình thƣờng, với mọi buồn vui của cuộc sống. Và tiếp theo mạch tƣ duy hƣớng nội, tập thơ Cõi lặng ra đời năm 2007 với rất nhiều ý kiến đánh giá khẳng định giá trị của nó. Nguyễn Sĩ Đại trong bài viết Cõi lặng của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã cho rằng “Một số bài đã vươn tới độ lớn mang tính phổ quát. Dù trong hoàn cảnh nào thì tâm hồn thi sĩ trong anh vẫn hài hoà nồng thắm cùng đất nước theo cách riêng của mình, tức là nơi chân tơ kẽ tóc, trong tế bào, trong mỗi hơi thở hàng ngày...Tập thơ mang đậm sự chiêm nghiệm về cuộc sống và triết lí về nhân sinh thế sự”. Cõi lặng là tập thơ làm phong phú thêm tiếng thơ Việt Nam hiện đại, tập thơ hoàn thiện hơn chân dung Nguyễn Khoa Điềm, làm cho ông gần gũi hơn đối với chúng ta, với cuộc sống vĩnh cửu. Các bài phê bình nghiên cứu, dù mỗi bài có cách nói, cách viết khác nhau song đếu có sự gặp gỡ ở một điểm chung khi khẳng định những đặc sắc của thơ Nguyễn Khoa Điềm. Đó là tiếng thơ của tuổi trẻ viết về Đất ngoại ô với những ngƣời mẹ, ngƣời em, những bạn bè đồng chí trong những năm tháng ác liệt của khói lửa chiến trƣờng. Đó là một tiếng thơ giàu chất suy tƣởng, ấm áp tình cảm. Và một nét riêng nữa của phong cách Nguyễn Khoa Điềm đó là nhà thơ của triết lí dân gian, một nhà thơ mà giọng Huế, chất Huế ngấm sâu vào từng câu, từng chữ. Dù trong hoàn cảnh nào, Nguyễn Khoa Điềm đều thể hiện một hồn thơ sắc sảo, giàu tri thức văn hoá với những suy tƣ đầy trách nhiệm trƣớc lí tƣởng và con đƣờng mà mình đã chọn. Có thể nói thơ Nguyễn Khoa Điềm đã đƣợc giới nghiên cứu phê bình và độc giả chú ý nhiều. Mặc dù có nhiều bài viết đề cập đến những vấn đề lớn của thơ ông, song phần lớn trong đó mới chỉ là những bài giới thiệu tác giả, giới thiệu từng tập Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 12 thơ chứ chƣa phải là công trình nghiên cứu Nguyễn Khoa Điềm nhƣ một tác gia, nhằm khảo sát toàn diện thơ Nguyễn Khoa Điềm. Trên cơ sở tiếp thu những bài viết quý báu đã có về Nguyễn Khoa Điềm, chúng tôi mạnh dạn bƣớc đầu tìm hiểu về phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm. 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phƣơng pháp phân tích tác giả, tác phẩm. Phân tích, chứng minh, thẩm bình để thấy rõ cảm hứng chủ đạo làm nổi bật những nét độc đáo trong thơ Nguyễn Khoa Điềm. Phƣơng pháp tiếp cận phong cách tác giả. Việc nghiên cứu phong cách tác giả là làm nổi bật sự độc đáo trong thế giới nghệ thuật thơ, nên đòi hỏi phải có phƣơng pháp tiếp cận phong cách tác giả. Phƣơng pháp so sánh. Đặt tác giả trong sự tƣơng quan với các nhà thơ khác, để thấy rõ những yếu tố làm nên nét đặc trƣng riêng trong sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. 4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tƣợng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm Phạm vi nghiên cứu Tập trung khảo sát quá trình sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm qua các tập thơ đã xuất bản * Đất ngoại ô - 1972 * Mặt đường khát vọng - 1974 * Đất và khát vọng - 1984 * Ngôi nhà có ngọn lửa ấm - 1986 * Cõi lặng - 2007 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13 5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU -Nhìn lại toàn bộ sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm nhƣ một quá trình vận động của tƣ duy nghệ thuật thơ, song song với những chặng đƣờng lịch sử của đất nƣớc. -Trên cơ sở khảo sát các tập thơ để tìm ra cái hay, cái đẹp và những nét đặc sắc về nội dung cũng nhƣ nghệ thuật của thơ Nguyễn Khoa Điềm, luận văn tập trung làm rõ phong cách nhà thơ. -Để thực hiện nhiệm vụ đã nêu, trên cơ sở của việc nhìn nhận lại một số vấn đề lí luận về phong cách tác giả, luận văn đi vào tìm hiểu sự ảnh hƣởng của quê hƣơng, gia đình, thời đại đến sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm. Đồng thời, phân tích văn bản thơ, so sánh với các nhà thơ khác cùng thời để làm nổi bật bức chân dung tinh thần trong thơ Nguyễn Khoa Điềm và khảo sát nó trong các cấp độ nghệ thuật khác nhƣ giọng điệu hình tƣợng, ngôn ngữ... 6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN Có nhiều cách tiếp cận thơ Nguyễn Khoa Điềm. Chúng tôi chọn hƣớng tiếp cận trên với mục đích làm rõ những nét độc đáo, những đóng góp riêng trong phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm. Qua đó, góp phần đánh giá một cách khoa học vị trí của Nguyễn Khoa Điềm trong nền thơ chống Mỹ. Tìm hiểu phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm là hƣớng đi có nhiều triển vọng trong việc làm sáng tỏ tiếng nói của thế hệ và cá nhân nhà thơ, làm rõ phong cách thơ trẻ chống Mỹ, từ đó có cái nhìn thấu đáo, toàn cảnh về thơ hiện đại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 14 7. KẾT CẤU LUẬN VĂN Chương I Thơ chống Mỹ và sự xuất hiện phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm. Chương II Từ cảm hứng thời đại đến phong cách cá nhân Nguyễn Khoa Điềm. Chương III Phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm qua một số phƣơng tiện nghệ thuật. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15 PHẦN NỘI DUNG Chương I THƠ CHỐNG MỸ VÀ SỰ XUẤT HIỆN PHONG CÁCH THƠ NGUYỄN KHOA ĐIỀM Thơ Nguyễn Khoa Điềm dù độc đáo nhƣng cũng không nằm ngoài dòng chảy của thơ ca thế kỉ. Đây là một thời kì mà do những yêu cầu chung của lịch sử, thơ ca tự giác hƣớng đến sự khám phá những giá trị tinh thần thời đại của dân tộc. Vì vậy, nghiên cứu phong cách Nguyễn Khoa Điềm không thể tách rời thành tựu của thơ chống Mỹ. Trong chƣơng này, trƣớc hết chúng tôi làm sáng tỏ nhận thức của mình về khái niệm phong cách nhƣ một khái niệm định hƣớng, từ đó tìm hiểu khái quát về thơ chống Mỹ nói chung và thơ Nguyễn Khoa Điềm nói riêng. cách nghệ thuật thơ Khái niệm phong cách Phong cách là một thuật ngữ không chỉ dùng trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, mà còn đƣợc dùng trong nhiều ngành khoa học và đời sống xã hội. Trong sáng tác và nghiên cứu văn học, thuật ngữ phong cách đƣợc sử dụng rộng rãi và ngày càng có ý thức. Xung quanh thuật ngữ này, lâu nay có rất nhiều định nghĩa, quan niệm phong phú đa dạng. Ở phƣơng Tây ngay từ thời cổ đại với các đại biểu xuất sắc nhƣ Platon, Aristote, khái niệm phong cách đã đƣợc nghiên cứu và vận dụng. Bƣớc sang thế kỉ XIX đặc biệt là thế kỉ XX, khái niệm phong cách ngày càng đƣợc quan tâm sâu sắc. Ở Liên xô, viện sỹ MB. Khrapchenko trong cuốn “Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học” đã thống kê gần 20 cách hiểu khác nhau về phong cách [121,129,152]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 16 Ở nƣớc ta tuy muộn màng hơn nhƣng những năm gần đây các nhà lí luận, nghiên cứu văn học đã dành nhiều công sức để tìm hiểu vấn đề phong cách, từ những sách công cụ nhƣ “Từ điển văn học” do Đỗ Đức Hiểu chủ biên; “Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi chủ biên; “150 thuật ngữ văn học” - Lại Nguyên Ân chủ biên; “Lí luận văn học” của Phƣơng Lựu, La Khắc Hoà, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, Lê Ngọc Trà; Dẫn luận phong cách học của Nguyễn Thái Hoà. Dẫn luận thi pháp học của Trần Đình Sử… đến các công trình đi sâu nghiên cứu phong cách tác. giả cụ thể Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức[31]; Tác phẩm và chân dung của Phan Cự Đệ; Nhà văn tư tưởng và phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh; Văn học Việt Nam trong thời đại mới của Nguyễn Văn Long; Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu của Tôn Phƣơng Lan… Buffon cho rằng “Phong cách chính là người” mỗi nhà văn thƣờng có một tạng riêng. Viện sỹ Likhatsep trong cuốn Thi pháp văn học Nga định nghĩa “Phong cách là một hệ thống hình thức và nội dung nhất định, là nguyên tắc thẩm mỹ để cấu trúc toàn bộ nội dung và hình thức”. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh sự kết hợp hài hoà giữa hai yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm nghệ thuật. Trong khi đó, V. Đneprop lại cho rằng phong cách đƣợc coi nhƣ là hình thức toàn vẹn có tính nội dung. Ông phát biểu “Phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên hệ đó bộc lộ sự thống nhất của nội dung nghệ thuật”. Xung quanh khái niệm phong cách còn có những quan điểm khác nhau nhƣng tựu trung có thể nhận ra hai luồng ý kiến cơ bản một nhấn mạnh sự thống nhất của những yếu tố nội dung và yếu tố tạo hình thức của tác phẩm; một cho rằng phong cách đƣợc coi nhƣ là hình thức toàn vẹn có tính nội dung. Mặc dù tách bạch nhƣ vậy nhƣng trong đó vẫn có thể nhận ra sự thống nhất, bởi các tác giả đều quan tâm đặc biệt đến hai yếu tố bộc lộ tài năng độc đáo của ngƣời nghệ sĩ - nội dung và hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn chƣơng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17 Các nhà nghiên cứu lí luận nƣớc ta cũng đã bỏ nhiều công sức nghiên cứu nội hàm thuật ngữ phong cách. Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học trên cơ sở thừa nhận hai phạm trù phong cách ngôn ngữ và phong cách nghệ thuật đã định nghĩa “Phong cách nghệ thuật là một phạm trù thẩm mỹ chịu sự thống nhất tương đối ổn định của hệ thống hình tượng, của các phương tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo trong sáng tác của một nhà văn trong một tác phẩm riêng lẻ, trong trào lưu văn học hay văn học dân tộc” [255]. "Đó là cái riêng tạo nên sự thống nhất lặp lại biểu hiện tập trung ở cách cảm nhận độc đáo về thế giới và ở hệ thống bút pháp nghệ thuật phù hợp với cách cảm nhận ấy". Thống nhất quan điểm đó, Phƣơng Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, La Khắc Hoà, trong cuốn Lí luận văn học định nghĩa “Phong cách là chỗ độc đáo về tư tưởng cũng như nghệ thuật, có phẩm chất thẩm mỹ thể hiện trong sáng tác của những nhà văn ưu tú”. Quả thật tính độc đáo là yếu tố quyết định tạo phong cách nghệ thuật. Nhìn chung các nhà nghiên cứu lí luận và nghiên cứu văn học đều nhấn mạnh cá tính sáng tạo độc đáo mang tính thẩm mỹ của nhà văn, cụ thể hoá các yếu tố tạo phong cách nghệ thuật tác giả. Các nhà nghiên cứu đều thống nhất nhà văn muốn có phong cách riêng trƣớc hết phải có tƣ tƣởng độc đáo, có cách cảm nhận thế giới độc đáo, có cảm hứng độc đáo, có hệ thống phƣơng thức riêng độc đáo, lẽ dĩ nhiên phải là “tính độc đáo chân chính” Hêghen Qua nhiều ý kiến về phong cách nhà văn, có thể rút lại những nét cơ bản nhất về phong cách Phong cách là những biểu hiện độc đáo của tài năng sáng tạo nghệ thuật, có tính thống nhất và tương đối ổn định, “được lặp đi lặp lại” trong nhiều tác phẩm của nhà văn, thể hiện cái nhìn và sự chiếm lĩnh nghệ thuật độc đáo của nhà văn đối với thế giới và con người. Nhƣ vậy, căn cứ để khẳng định phong cách tác giả là những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức trên từng tác phẩm văn học, tạo nên tính độc đáo và giá trị của một nhà văn, một hiện tƣợng văn học. Theo chúng tôi, những biểu hiện độc đáo và giá trị thể hiện tài năng sáng tạo ấy, đều đƣợc chi phối từ tƣ tƣởng nghệ thuật của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 18 tác giả. Tƣ tƣởng nghệ thuật ấy lại đƣợc biểu hiện cụ thể trong cảm hứng sáng tác, thế giới hình tƣợng, giọng điệu và ngôn ngữ.., trong đó cảm hứng hiện thực thời đại là yếu tố hàng đầu chiếm vị trí quan trọng. Nhà văn Nguyễn Tuân đã từng khẳng định “Mỗi người viết có một cái vision nhỡn quan riêng. Nó đẻ ra phong cách”. Phong cách thời đại và phong cách cá nhân Xung quanh khái niệm phong cách tác giả, vấn đề còn đặt ra là phong cách cá nhân có quan hệ với phong cách thời đại nhƣ thế nào? Giữa phong cách và thi pháp liên quan với nhau ra sao? Mỗi thời đại có một đặc điểm riêng, in dấu rõ đặc trƣng văn hoá xã hội tinh thần thời đại ấy. Văn học phản ánh tinh thần cơ bản nhất của thời đại, mang phong cách chung của thời đại, gắn liền với truyền thống văn chƣơng của mỗi nền văn học. Văn học trung đại nồng nàn lòng yêu nƣớc và tinh thần quyết chiến quyết thắng của nhân dân ta trong cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Đó là sự kết tinh ý chí của cả thời đại ấy. Hoặc trong văn học hiện đại chúng ta dễ nhận ra phong cách chung của thơ chống Pháp, nó thể hiện sự gắn bó với cuộc sống kháng chiến và niềm vui của đời sống kháng chiến. Đến thơ thời kì kháng chiến chống Mỹ, toàn bộ tinh thần thời đại là chủ nghĩa yêu nƣớc và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Tính trữ tình - sử thi là phong cách nổi bật của thơ chống Mỹ. Dƣờng nhƣ mỗi nhà thơ thời kì này đều thể hiện tính thời đại ấy Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Nguyễn Đức Mậu…là những phong cách cá nhân tiêu biểu làm nên phong cách thời đại mình. Giữa phong cách thời đại và phong cách cá nhân có mối liên hệ qua lại, ràng buộc lẫn nhau. Phong cách thời đại là cái chung, cái tạo nên sự gần gũi nhau giữa những phong cách cá nhân trong mỗi thời đại. Quan tâm đến mối quan hệ này, A. Xôkôlôv viết “Hình thức chủ yếu của sự thống nhất phong cách là khuynh hướng nghệ thuật - phạm trù cơ bản của quá trình nghệ thuật. Phong cách khuynh hướng đó là tính cộng đồng của những đặc điểm phong cách khiến cho sáng tác của những nghệ sĩ thuộc một khuynh hướng nhất định gần gũi nhau… Phong cách riêng lẻ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19 không thể tồn tại nếu thiếu cái chung, thiếu phong cách của khuynh hướng. Phong cách bao giờ cũng bắt nguồn từ cái chung”. Đành rằng phong cách thời đại có ảnh hƣởng trực tiếp tới phong cách cá nhân, nhƣng không thể đề cao nó một cách tuyệt đối, bởi nhƣ vậy sẽ vô hình làm giảm ý nghĩa của phong cách cá nhân. Phong cách thời đại không thể xoá nhoà bản sắc riêng của phong cách cá nhân. Phong cách cá nhân là cái riêng xác lập vị thế của mình góp phần tạo nên cái chung của phong cách thời đại. Phong cách thời đại có ảnh hƣởng, chi phối các phong cách cá nhân, tạo ra nền tảng tinh thần, đặc trƣng thẩm mỹ có sức hút lớn đối với mọi cá tính sáng tạo. Phong cách thời đại không hình thành từ khái niệm trừu tƣợng mà nó đƣợc gắn kết từ các phong cách cá nhân. Chính phong cách cá nhân góp phần làm nên phong cách thời đại, và làm giàu cho phong cách thời đại. Phong cách cá nhân không chỉ tiếp nhận nguồn sáng, sự ràng buộc của phong cách thời đại mà nó còn phá bỏ sự ràng buộc để tìm đến cái mới mẻ, cái riêng, cái độc đáo. Ngoài mối liên hệ giữa phong cách thời đại và phong cách cá nhân, giữa phong cách học và thi pháp học cũng có những mối quan hệ qua lại. Có trƣờng phái cho rằng phong cách và thi pháp đều thuộc một phạm trù, chúng tồn tại trong tác phẩm nghệ thuật ngôn từ nhƣ một sự hiển nhiên. Lại có trƣờng phái tuyệt đối hoá hai khái niệm này một cách cực đoan cho rằng, giữa phong cách và thi pháp không có quan hệ, ràng buộc gì với nhau. Thực ra phong cách và thi pháp là hai phạm trù khoa học có nội hàm riêng. Tuy vậy, theo Khrapchenko, phong cách học và thi pháp học có tính “độc lập tƣơng đối”, có sự “liên hệ năng động”. Vì vậy chúng có quan hệ mật thiết với nhau. Nghiên cứu phong cách không thể không nghiên cứu những yếu tố thuộc phạm trù thi pháp và ngƣợc lại, thi pháp là cơ sở khoa học, là bằng chứng đầy sức thuyết phục làm nên phong cách tác giả. Nghiên cứu phong cách một nhà thơ Nghiên cứu phong cách nhà thơ và phong cách thơ Nguyễn Khoa Điềm nói riêng, luận văn chú ý đến cảm hứng thời đại, thời kì chống Mỹ cứu nƣớc. Đó là cảm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 20

phong cách thơ của nguyễn khoa điềm